Kích thước
Kích thước sofa giường: đọc đúng hai bộ số đo lúc gấp và lúc mở
Bảng thông số thường chỉ in số đo lúc ghế đang gấp, còn số đo lúc mở giường mới là con số quyết định căn phòng có chứa nổi hay không.
Cùng một món đồ nhưng tồn tại hai bộ số đo hoàn toàn khác nhau: bộ số lúc nó là ghế và bộ số lúc nó là giường. Bảng thông số của người bán hầu như luôn in bộ thứ nhất ở dòng đầu tiên, còn bộ thứ hai nằm lẫn phía dưới, viết tắt, đôi khi không có. Người mua đọc lướt, ghi lại ba con số, về nhà kê vừa khít, rồi tối đầu tiên mở giường ra mới phát hiện mép nệm chạm cạnh bàn trà và cửa phòng không khép được nữa.
Vì sao sofa giường phải đo hai lần
Sofa thường chỉ có một hình khối cố định, đo xong là xong. Sofa giường thì có một cơ chế cơ khí bên trong, và cơ chế đó làm hình khối biến dạng theo một hướng nhất định. Chiều dài của ghế gần như không đổi khi mở, vì phần khung dài nhất đã nằm sẵn ở hai tay vịn. Cái thay đổi mạnh là chiều sâu: mặt nằm phải lấy thêm chỗ từ đâu đó, và nơi nó lấy chính là khoảng sàn trống trước hoặc sau ghế.
Vì vậy cách ghi số đo cho món đồ này nên tách làm hai dòng riêng. Dòng thứ nhất là số lúc gấp gồm chiều dài, chiều sâu, chiều cao tổng và chiều cao mặt ngồi. Dòng thứ hai là số lúc mở gồm chiều dài mặt nằm, chiều sâu tổng sau khi mở và chiều cao mặt nằm so với sàn. Thiếu dòng thứ hai thì mọi tính toán về bố trí phòng đều chỉ đúng một nửa thời gian.
Khoảng số đo thường gặp theo từng kiểu cơ chế
Bảng dưới đây là khoảng tham chiếu tổng hợp từ những kiểu cơ chế phổ biến trên thị trường, không phải tiêu chuẩn quốc gia, không phải quy định bắt buộc và cũng không phải cam kết của bất kỳ nhà sản xuất nào. Mục đích duy nhất của nó là giúp khoanh vùng trước khi đi xem hàng, để biết một chiếc sofa giường loại nào sẽ ăn vào bao nhiêu diện tích sàn.
| Kiểu cơ chế | Chiều dài lúc gấp (cm) | Chiều sâu lúc gấp (cm) | Chiều sâu lúc mở (cm) | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|---|---|
| Lật lưng, ngả tựa xuống ngang mặt ngồi | 180 – 200 | 80 – 90 | 100 – 120 | Lưng ngả về phía sau nên cần khe hở giữa ghế và tường |
| Gấp ba, mở khung nệm từ trong thân ghế | 190 – 220 | 90 – 100 | 190 – 210 | Chiều sâu tăng gần gấp đôi, toàn bộ về phía trước |
| Kéo trượt mặt ngồi ra trước | 190 – 230 | 95 – 110 | 180 – 200 | Cần khoảng trống để đứng cúi kéo phần đế |
| Sofa góc kèm nệm rời hoặc ngăn kéo | 230 – 280 cạnh dài | 90 – 100 | 140 – 180 | Phần đuôi chữ L đã chiếm sẵn diện tích cố định |
| Ghế đơn mở thành giường một người | 90 – 110 | 85 – 95 | 180 – 195 | Rộng lọt lòng hẹp, cần kiểm tra cỡ ga trước khi mua |
Chiều cao là nhóm số đo hay bị bỏ qua nhất vì nó không ảnh hưởng tới việc kê vừa hay không vừa. Nhưng nó lại quyết định cảm giác dùng hằng ngày, nên vẫn nên ghi lại.
| Kích thước chiều cao | Khoảng tham chiếu (cm) | Nó ảnh hưởng tới điều gì |
|---|---|---|
| Cao tổng tính từ sàn tới đỉnh lưng | 75 – 95 | Tầm nhìn trong phòng, khả năng kê trước cửa sổ |
| Cao mặt ngồi | 38 – 45 | Tư thế ngồi, việc đứng lên ngồi xuống |
| Cao mặt nằm sau khi mở | 30 – 42 | Cảm giác trở mình, độ tiện khi lên xuống ban đêm |
| Khoảng hở gầm ghế | 0 – 18 | Việc lau dọn và chỗ luồn chân của cơ chế kéo |
Quy trình đo bảy bước tại chỗ
- Đo ghế lúc đang gấp theo đúng ba hướng: chiều dài phủ bì tính cả hai tay vịn, chiều sâu tính từ mặt trước tay vịn tới điểm nhô nhất phía sau lưng, chiều cao tính từ sàn lên đỉnh tựa.
- Mở giường ra hết hành trình, khóa cơ chế đúng như khi dùng thật, rồi đo lại chiều sâu tổng và chiều dài mặt nằm.
- Đo quỹ đạo mở, tức là điểm xa nhất mà khung hoặc nệm quét tới trong lúc đang thao tác. Có cơ chế cần chỗ trống rộng hơn kích thước cuối cùng vài chục xăng ti mét, và đó mới là con số cần chừa.
- Đo chiều rộng lọt lòng của mặt nằm, đo giữa hai mép trong tay vịn chứ không phải mép ngoài. Đây là số dùng để mua ga và nệm phụ.
- Đo chiều cao mặt nằm và độ dày nệm khi gấp lại. Nệm quá dày là lý do phổ biến khiến ghế không khép kín được sau vài tháng dùng.
- Đo lối vận chuyển gồm khuôn cửa, chiếu nghỉ cầu thang, lòng thang máy, và so với chiều rộng cùng chiều cao khối ghế lúc dựng nghiêng.
- Về nhà dán băng giấy lên sàn theo cả hai bộ số, dán hai màu khác nhau cho hai trạng thái, rồi sinh hoạt bình thường quanh khối hình đó vài ngày.
Bước cuối cùng nghe thừa nhưng lại cứu được nhiều quyết định sai. Con số trên giấy không cho biết cảm giác phải lách người mỗi lần đi qua, còn hình dán trên sàn thì cho biết ngay tối đầu tiên. Thao tác đo cho các kiểu ghế khác nằm trong nhóm bài kích thước sofa.
Số đo lúc mở giường hay bị quên hẳn
- Khoảng nhô của tay vịn: tay vịn dày làm chiều rộng lọt lòng hẹp hơn chiều dài phủ bì rất nhiều, có khi tới hai mươi xăng ti mét mỗi bên.
- Khoảng đứng thao tác: người mở giường cần chỗ để đứng và cúi, phần này không nằm trong bất kỳ thông số nào của sản phẩm.
- Chiều dày thảm: thảm dày làm chân ghế lún xuống và làm kẹt bánh xe của cơ chế kéo trượt.
- Hướng mở của cửa phòng và cánh tủ: giường mở ra có thể vẫn vừa sàn nhưng chặn mất quỹ đạo của một cánh cửa.
- Vị trí ổ điện và công tắc: lưng ghế lúc gấp và mép giường lúc mở nằm ở hai chỗ khác nhau, ổ điện tiện lúc này lại khuất lúc kia.
- Thùng chứa chăn gối: nhiều mẫu có khoang trữ, cần đo lòng khoang chứ không chỉ đo bên ngoài.
Quan hệ giữa số đo và người dùng
Có vài nguyên tắc nhân trắc đáng nhớ, và nên nhớ ở dạng nguyên tắc thay vì con số tuyệt đối. Chiều cao mặt ngồi nên xấp xỉ chiều cao khoeo chân của người dùng chính, để bàn chân đặt phẳng xuống sàn mà mặt dưới đùi không bị mép ghế ép. Chiều sâu ngồi nên ngắn hơn chiều dài đùi một đoạn, để lưng tựa được vào tựa mà khoeo chân vẫn thoáng. Chiều dài mặt nằm nên vượt chiều cao người nằm một khoảng đủ cho gối phía trên và bàn chân phía dưới. Mặt nằm càng thấp thì việc trở mình càng dễ nhưng việc đứng dậy ban đêm càng mỏi.
Không nên quy các nguyên tắc này thành con số cố định rồi áp cho cả nhà, vì chênh lệch giữa các thành viên thường lớn hơn chênh lệch giữa các mẫu ghế. Cách hợp lý hơn là ngồi thử và nằm thử đúng tư thế thật, đủ lâu để cơ thể phản hồi. Muốn ước lượng nhanh trước khi ra cửa hàng thì công cụ chọn kích thước sofa cho một điểm khởi đầu, còn nệm và vải bọc bàn riêng ở nhóm bài chất liệu.
Vì sao nên đo ghế thật thay vì tin bảng tra
Mỗi nhà sản xuất dựng khung theo cách riêng, chọn độ dày nệm riêng và quy ước đo riêng. Cùng ghi chiều sâu chín mươi lăm, một bên có thể đang đo phủ bì tính cả nệm lưng phồng ra, bên kia đo tới mặt gỗ khung. Vài xăng ti mét chênh lệch ở khâu thông số trở nên rất rõ khi kê vào một khoảng tường có sẵn. Thêm nữa, nệm lún dần theo thời gian nên chiều cao mặt ngồi sau một năm không còn đúng như hôm mới nhận. Bảng tra tồn tại để loại bớt phương án, không phải để thay cây thước.
Chừa chỗ mở giường về phía nào
Đây là câu hỏi quyết định vị trí kê, và nó phụ thuộc vào cơ chế chứ không phụ thuộc vào diện tích phòng. Cơ chế gấp ba và kéo trượt lấy chỗ về phía trước, nên chiếc ghế có thể áp sát tường nhưng phần sàn trước mặt phải trống và không có đồ nặng cố định. Cơ chế lật lưng lại lấy chỗ về phía sau vì tựa ngả xuống cần khe hở giữa lưng ghế và tường, dán sát tường là kẹt. Một số mẫu ghế đơn mở dọc theo trục dài, nghĩa là phần chừa nằm ở đầu hồi chứ không phải trước mặt.
Vì vậy trước khi chốt vị trí, nên xác định hướng mở rồi mới chọn bức tường. Nếu chừa về phía trước, bàn trà nên là loại nhẹ hoặc có bánh xe để đẩy đi trong ba giây. Nếu chừa về phía sau, cần ghi rõ khe hở tối thiểu vào bản vẽ bố trí và không kê tủ thấp hay chân tường trang trí vào đúng dải đó. Trường hợp phòng chỉ đủ chỗ theo một hướng duy nhất, việc chọn cơ chế nên đi trước việc chọn kiểu dáng, vì kiểu dáng đổi được còn hướng mở thì không.
Cuối cùng, hướng mở nên trùng với hướng đi lại ít dùng nhất trong phòng. Giường mở ban đêm mà chắn ngang lối tới nhà vệ sinh hay lối vào bếp sẽ khiến chiếc ghế bị bỏ chức năng giường chỉ sau vài tuần. Cách bố trí quanh trục di chuyển được nói kỹ hơn trong nhóm bài bố trí sofa, còn các dòng sản phẩm theo cơ chế mở nằm ở trang sofa giường. Ghi hai bộ số đo cạnh nhau trong điện thoại trước khi đi xem hàng là việc mất ba phút và tránh được phần lớn rắc rối về sau.