So sánh
Da thật hay da công nghiệp: đối chiếu từ lớp nền tới cách bộ sofa hỏng
Cùng một dáng ghế, đổi lớp bọc là giá đội lên nhiều lần. Đây là bản đối chiếu sòng phẳng giữa da bò thật và da công nghiệp, kể cả những tiêu chí da bò thua.
Cùng một dáng ghế, cùng cỡ khung, chỉ đổi lớp bọc là giá chênh nhau nhiều lần. Da bò thật hay được tô thành thứ bền vĩnh viễn, da công nghiệp bị dìm thành đồ dùng tạm, cả hai cách nói đều làm người mua chọn sai. Bản đối chiếu này đi từ lớp nền tới cách mỗi loại hỏng, không né những tiêu chí mà da bò thua.
Một tấm da bò được thuộc, một tấm vải được phủ nhựa: khác nhau ngay từ lớp nền
Da bò có cấu trúc sợi collagen đan chéo, sau khi thuộc vẫn giữ lỗ chân lông li ti nên trao đổi hơi ẩm với không khí. Da công nghiệp là tấm vải nền dệt kim polyester hoặc canvas được phủ màng nhựa rồi dập vân giả. Mọi khác biệt về cảm giác ngồi, mùi và cách hỏng đều bắt nguồn từ đây.
Trong nhóm da bò cũng có nhiều hạng khác nhau
Một tấm da bò dày được xẻ thành nhiều lớp. Lớp trên cùng giữ nguyên vân gốc, đắt nhất, càng dùng càng lên màu. Lớp dưới xốp hơn, phải phủ màng rồi dập vân cho đều, vẫn gọi là da thật nhưng tuổi thọ khác hẳn. Chữ da thật trên hóa đơn vì vậy chưa đủ, phải hỏi tới lớp da và cách hoàn thiện, chi tiết nằm ở trang chất liệu da bọc sofa.
Simili, PU và vi sợi không cùng một đẳng cấp
Simili phủ PVC nằm ở đáy: cứng tay, bí, gặp nhiệt và mồ hôi thì giòn rồi nứt theo nếp gấp. Da PU mềm hơn nhưng màng phủ có tuổi thọ hữu hạn, thường kết thúc bằng việc bong từng mảng. Da vi sợi là bậc cao nhất, bó sợi siêu mảnh mô phỏng collagen, chịu mài và chịu ẩm rất tốt, giá vượt nhiều loại da bò lớp dưới. Gộp cả ba vào một chữ da giả là làm hỏng phép so sánh.
Sờ mép cắt, ngửi và áp lòng bàn tay: ba động tác làm ngay trước khi hỏi giá
Người bán nào cũng nói đúng chuẩn, nên phần này phải tự làm. Ba động tác dưới đây mất chưa tới một phút.
- Soi mép cắt và đường chỉ. Vén mép bọc ở gầm ghế. Da bò cắt ra có thớ xù nhẹ, mặt trái là sợi bông tơi liền khối. Da công nghiệp lộ rõ hai lớp, màng nhựa nằm trên vải dệt, mép cắt thẳng đét như xén dao.
- Áp cả lòng bàn tay và giữ yên. Da bò nhận nhiệt rồi ấm dần, nhấc tay ra có vệt ẩm mờ. Màng nhựa ban đầu mát hơn nhưng nóng lên nhanh và đọng mồ hôi, mùa hè ngồi lâu là dính lưng áo.
- Ngửi sát mặt da rồi ấn ngón tay xuống. Da bò có mùi thuộc da ngai ngái, hàng phủ nhựa còn mùi dung môi. Khi ấn, da bò nhăn thành nhiều nếp nhỏ tỏa ra rồi trở lại từ từ, màng nhựa nhăn vài nếp lớn dứt khoát và bật lại nhanh.
Thêm một việc: nhìn độ đều của vân. Vân lặp lại chính xác theo chu kỳ là dấu hiệu khuôn dập, còn sẹo mờ và lỗ li ti không đều là bằng chứng có lợi cho hàng thật.
Da bò thật và simili, PU, vi sợi trên mười một tiêu chí sử dụng
| Tiêu chí | Da bò thật | Da công nghiệp (simili, PU, vi sợi) |
|---|---|---|
| Lớp nền | Sợi collagen tự nhiên, liền khối | Vải dệt phủ màng PVC hoặc PU; vi sợi có bó sợi mô phỏng |
| Thoáng khí, ngồi lâu mùa nóng | Có lỗ chân lông, ấm dần, ít dính lưng | Gần như kín, dễ đọng mồ hôi; vi sợi khá hơn simili |
| Kiểu hỏng đặc trưng | Khô, nứt chân chim, phai bóng theo vệt ngồi | Bong từng mảng, lộ vải nền |
| Vòng đời so với khung ghế | Theo hết đời khung nếu dưỡng đều | Thường thay bọc vài lần trong một đời khung |
| Ẩm nồm và chất lỏng đổ | Ngậm ẩm ở đường chỉ, thấm nhanh, để vệt sẫm | Không hút ẩm, lau ngay là sạch |
| Móng vuốt vật nuôi | Xước thành đường sáng, xoa mờ được bằng dầu dưỡng | Rách màng là hỏng hẳn tại chỗ đó |
| Nắng chiếu trực tiếp | Khô cứng, bạc màu, phải dưỡng lại | Màng lão hóa nhanh, giòn rồi nứt |
| Dải màu | Hẹp, nghiêng về nâu, be, xám, đen | Rộng, làm được màu tươi và vân lạ |
| Công chăm sóc | Lau bụi đều, dưỡng ẩm định kỳ | Chỉ lau, không cần dưỡng |
| Bọc lại | Đáng tiền vì khung thường vẫn tốt | Làm được nhưng nhiều nhà bỏ cả bộ |
| Giá tương đối | Cao hơn nhiều lần ở lớp trên, chênh nằm ở phần da | Simili rẻ nhất, vi sợi có thể vượt da bò lớp dưới |
Những chỗ da bò thật chịu thua rõ ràng
Bảng nào cho da bò thắng ở mọi dòng thì bảng đó không đáng tin. Bốn tình huống sau, phần thắng nghiêng hẳn sang phía còn lại.
- Nhà ẩm, ít nắng. Da bò là vật liệu hữu cơ, gặp ẩm kéo dài thì mặt trái và chỉ khâu mốc trước; da công nghiệp không có chuyện đó.
- Chất lỏng đổ và dầu tóc ở tựa đầu. Da bò hoàn thiện mỏng giữ được cảm giác mộc, cũng là loại thấm nhanh nhất; vệt cà phê hay mảng sẫm ở tựa đầu chỉ làm mờ chứ khó tẩy hết. Với màng nhựa thì một khăn ẩm là xong.
- Nhà có mèo. Móng bám vào thớ da bò rất ăn, hông ghế hay bị chọn làm chỗ cào. Vi sợi bề mặt bí, ít bám móng và rẻ hơn khi phải thay.
- Muốn màu sáng hoặc vân lạ. Da bò khó giữ màu tươi lâu, đây là sân của da công nghiệp.
Còn một điểm ít ai nói: da bò kéo theo chi phí chăm sóc lặp lại. Bỏ dưỡng vài mùa hanh là mặt da nứt chân chim, phục hồi tốn hơn hẳn thay tấm bọc PU. Cách xử lý khi da đã nứt hoặc bong nằm ở nhóm bài khắc phục lỗi sofa.
Căn hộ cho thuê, nhà có trẻ nhỏ và phòng ít ngồi: chỗ da PU đứng vững
Có những bài toán mà chọn da công nghiệp không phải là chịu thua thiệt, mà là chọn đúng công cụ.
- Căn hộ cho thuê hoặc chỗ ở tạm vài năm. Người ngồi không phải người trả tiền sửa; bỏ tiền cho da bò ở đây là giao tài sản cho người không có động cơ giữ gìn.
- Nhà có trẻ đang tuổi vẽ bậy và làm đổ. Giai đoạn này cần lau nhanh chứ không cần lên màu đẹp, đợi qua vài năm rồi tính tiếp.
- Phòng khách chỉ dùng để tiếp khách. Ưu thế lớn nhất của da bò là càng ngồi càng đẹp, ghế ít ngồi thì ưu thế đó không được kích hoạt.
- Ngân sách cố định. Cùng số tiền, da công nghiệp tốt trên khung gỗ dày và đệm mút đúng tỷ trọng cho trải nghiệm hơn hẳn da bò căng trên khung yếu.
- Người không dùng sản phẩm từ động vật. Không cần cân đo thêm.
Khi khung gỗ và tỷ trọng mút mới là biến số, đặt hai tấm bọc lên bàn cân là sai đề
Ba tình huống dưới đây, đối chiếu hai vật liệu này không cho ra câu trả lời có ích.
Chưa chốt khung và mút. Lớp bọc quyết định vẻ ngoài và cảm giác chạm, còn chuyện ghế lún hay kêu cót két sau vài năm là việc của khung sofa và ruột đệm. Chọn da trước là đảo ngược thứ tự.
Hai bên không cùng hạng. Đem vi sợi cao cấp so với da bò lớp dưới phủ màng dày, hoặc simili nền mỏng so với da bò lớp trên, đều là so lệch hạng. Phép so sánh chỉ có nghĩa khi hai bên cùng khoảng giá.
Câu trả lời đúng lại là vải. Phòng không máy lạnh, khí hậu nóng ẩm, người ngồi lâu hàng ngày thì cả hai loại da đều bí, lúc này nên chuyển sang sofa bọc vải.
Xuống tiền cho da bò khi nào, dừng lại ở da công nghiệp khi nào
Chọn da bò thật nếu nhà là chỗ ở lâu dài, phòng khách có nắng và thông gió khá, người dùng chấp nhận lau dưỡng định kỳ, ghế được ngồi hàng ngày để lên màu, và sau khi trả cho phần da vẫn đủ tiền cho khung tốt. Thiếu một điều kiện, phần chênh giá không quay lại thành giá trị sử dụng.
Chọn da công nghiệp nếu nhà ẩm hoặc ít nắng, có trẻ nhỏ hay vật nuôi, chỗ ở tạm thời, cần màu sáng, và người dùng muốn lau xong là quên. Nếu ngân sách cho phép, hãy nhắm tới vi sợi thay vì simili PVC: khoảng cách giữa hai loại đó lớn hơn khoảng cách giữa vi sợi và da bò lớp dưới.
Trường hợp ghép: da bò ở mặt ngồi và tựa lưng, hông và lưng ghế dùng da công nghiệp. Cách này hạ giá đáng kể mà chỗ tiếp xúc vẫn là hàng thật, với điều kiện ghi rõ trong đơn hàng kèm bảo hành từng phần, chứ không phải phát hiện sau khi ghế đã kê vào nhà. Xem thêm ở mục so sánh chất liệu và hướng dẫn chọn mua sofa.