Miễn phí vận chuyển toàn quốc Tư vấn chọn sofa 24/7 0909 888 668 Hỗ trợ đại lý / Doanh nghiệp

Bảng giá

Giá may vỏ bọc sofa: cấu thành theo mét vải tiêu hao

Cùng một bộ sofa, hai xưởng đo ra hai lượng vải khác nhau và ra hai mức chào khác nhau. Hiểu chỗ khác nhau đó là hiểu toàn bộ tờ báo giá.

Bảng dưới đây tổng hợp từ khảo sát giá công khai trên thị trường (không phải dữ liệu nội bộ TìmSofa), tham khảo vào 07/2026 – dùng để hình dung mặt bằng chung trước khi so sánh báo giá, không phải mức giá TìmSofa cam kết hay báo giá cho đơn hàng cụ thể.

Chất liệu (khổ ≤60cm) Khoảng giá tham khảo/mét dài
Da công nghiệp 400.000đ/m

Mét dài tính theo công thức (dài + rộng) trừ độ sâu ghế – khác theo chất liệu chọn (nỉ, nhung, da…).

Một tấm vỏ bọc may đo không được tính tiền như món đồ bán sẵn. Nó gần với đặt may quần áo: người thợ nhìn bộ sofa của bạn, hình dung đường cắt, rồi ước lượng phải rút bao nhiêu vải ra khỏi cây vải mới đủ. Chính bước ước lượng đó, chứ không phải việc đếm có mấy tấm vỏ, mới là nơi con số hình thành.

Về bảng tham khảo ở trên: đây là số liệu tổng hợp từ khảo sát thị trường công khai (xem nguồn ở trên), không phải dữ liệu nội bộ đã được TìmSofa xác minh trực tiếp – chỉ dùng để hình dung mặt bằng chung. Phần dưới đây giải thích giá được cấu thành từ đâu, giúp bạn tự đánh giá được báo giá mình nhận có hợp lý không.

Thợ đong cái gì trước khi nói tới số món

Khi người nhận đơn cầm thước tới nhà, thứ họ ghi vào sổ không phải là “một thân ghế, ba đệm ngồi, ba đệm tựa”. Họ ghi chiều dài, chiều sâu, chiều cao lưng, chu vi tay vịn, độ dày đệm, cộng phần chừa cho đường may và cho việc trùm mép. Tất cả quy về một con số: tổng chiều dài vải cần cắt trên khổ vải bạn chọn.

Khổ vải là biến số dễ bị bỏ qua nhất: khổ rộng cho phép xếp hai mảnh cạnh nhau trên cùng một đoạn, khổ hẹp thì mỗi mảnh chiếm trọn một đoạn và rẻo hai bên thành đồ bỏ. Biến số thứ hai là hoa văn: vải trơn cho phép xoay mảnh theo hướng tiết kiệm nhất, còn sọc hay họa tiết lặp buộc phải cắt cho các mảnh ghép lại vẫn thẳng hàng, mỗi lần muốn trùng khớp là một lần bỏ thêm một đoạn. Hai biến số đó giải thích vì sao hai xưởng đọc ra hai lượng vải khác nhau mà không ai nói sai.

Vậy câu hỏi đầu tiên không phải “bao nhiêu một bộ” mà là: cần bao nhiêu mét, trên khổ vải nào, đã gồm hao hoa văn chưa. Với bọc lại toàn bộ, cách đo tương tự nhưng lượng hao khác vì không chừa cho việc tháo lắp.

Các khoản hợp thành một tờ chào giá vỏ bọc may đo

Bảng dưới liệt kê những dòng thường xuất hiện và điều khiến dòng đó nặng lên hay nhẹ đi. Nhiều xưởng gộp thành vài mục lớn, nhưng khoản nào bị gộp thì bạn vẫn có quyền hỏi tách.

Khoản mục Đơn vị đong Điều làm khoản đó nặng lên hoặc nhẹ đi
Vải mặt Mét dài trên một khổ vải xác định Khổ hẹp làm tăng rẻo bỏ; hoa văn cần trùng khớp làm tăng hao; vải trơn khổ rộng kéo mét xuống
Vải lót bên trong Mét dài Có lót hay bỏ lót; lót dày giữ phom tốt hơn nhưng ăn thêm mét
Công cắt và ráp Theo mảnh cắt hoặc theo giờ máy Tay vịn cong, lưng chia ô, chần nút kéo công lên; dáng vuông vức kéo xuống
Bo viền, khóa kéo, chun, dây rút Mét đường viền, cái với khóa Tổng chiều dài mép cần bo; càng nhiều mảnh tháo rời càng nhiều khóa; dây rút nhẹ hơn khóa giấu mép
Đo tại nhà, lên rập, may mẫu duyệt phom Lượt đo và bộ mẫu, hoặc gộp vào công may Sofa góc, ghế lạ dáng, không có rập sẵn làm bước này nặng thêm; bỏ mẫu duyệt thì nhẹ nhưng dễ phải sửa
Xử lý vải trước khi cắt Mét hoặc mẻ giặt Sợi tự nhiên cần cho co trước; yêu cầu chống thấm làm khoản này xuất hiện
Đi lại, lắp thử và chỉnh sửa sau giao Lượt đi lại và lần sửa, trong một mốc thời gian Khoảng cách, tầng lầu không thang máy; cam kết dài thì tính vào trước, cam kết ngắn đẩy rủi ro về phía bạn

Điều gì đẩy khối lượng vật liệu lên hoặc kéo nó xuống

  • Độ dày đệm. Đệm càng dày, vải bao quanh cạnh càng dài, và bốn cạnh nhân lên rất nhanh.
  • Kiểu trùm hay kiểu ôm. Trùm rủ cần dư vải tạo nếp; ôm sát ít vải hơn nhưng đòi cắt chính xác, nên tiết kiệm ở vải bị bù lại ở công.
  • Độ co giãn. Vải co giãn cho phép cắt hụt rồi kéo căng khi mặc vào; vải không co giãn phải chừa rộng hơn.
  • Yếm che chân và gối trang trí. Yếm chạy quanh chu vi, mỗi vỏ gối là một mảnh cộng khóa; cả hai hay bị nhớ ra sau khi đã chốt lượng vải.

Chiều ngược lại: khổ rộng, vải trơn, gom hết các món vào một lần cắt. Phần tổng hợp về vải bọc mô tả đặc tính từng nhóm sợi rõ hơn.

Đặt kèm một lớp thay thế: chi phí không lặp lại nguyên vẹn

Ai cũng nghĩ tới câu này sau khi nghe mức chào lần đầu: đặt luôn một lớp nữa để giặt luân phiên thì lớp sau có nhẹ hơn không. Có, nhưng phần nhẹ đi nằm ở nhóm khoản cố định chứ không nằm ở nhóm biến đổi. Nhóm chỉ tốn một lần gồm đo tại nhà, lên rập, may mẫu duyệt phom và phần lớn công đi lại lắp thử: rập đã có và phom đã được xác nhận thì xưởng không phải làm lại từ đầu. Nhóm lặp lại gần như nguyên vẹn gồm vải mặt, vải lót, chỉ, khóa, chun, dây bo và công cắt ráp — cây vải vẫn phải rút đủ số mét.

Kỳ vọng hợp lý vì thế là lớp sau nhẹ hơn một phần, chứ không phải chỉ bằng một phần nhỏ. Phần tiết kiệm còn thu hẹp nếu chọn vải khác loại khiến rập phải hiệu chỉnh theo độ co giãn mới, nếu đặt cách nhau quá lâu khiến xưởng phải đo lại vì đệm đã lún, hoặc nếu lớp sau dùng hoa văn cần trùng khớp trong khi lớp đầu là vải trơn.

Ngược lại, hai lớp cùng loại vải và cùng khổ trong một đơn cho phép xưởng cắt gộp trên cùng cây vải, tận dụng rẻo của lớp này cho mảnh nhỏ của lớp kia. Đó là lúc phần tiết kiệm rõ nhất, nên hỏi thẳng xưởng có làm được vậy không.

Những mục dễ rơi ra ngoài lần trao đổi đầu tiên

  1. Vỏ gối trang trí và vỏ tựa đầu rời, hay bị coi là chuyện nhỏ rồi tính sau.
  2. Bước cho vải co trước khi cắt, quan trọng nếu bạn định giặt vỏ tại nhà.
  3. Yếm che chân ghế và dây cố định mặt dưới để vỏ không xô lệch khi ngồi.
  4. Lượt quay lại chỉnh phom sau khi bạn dùng thử một thời gian.

Đặt hai tờ chào giá cạnh nhau mà không so nhầm

  1. Quy về cùng đơn vị gốc: mỗi bên cần bao nhiêu mét, trên khổ vải nào. Chênh lệch mét giải thích phần lớn chênh lệch tổng.
  2. Liệt kê đủ món: thân ghế, đệm ngồi, đệm tựa, tựa đầu, gối, yếm. Nhiều tờ chào thấp đơn giản vì thiếu món.
  3. Đối chiếu phụ kiện: khóa giấu mép hay khóa thường, có chun cố định không, bo viền hay diễu chỉ.
  4. Ghi lại cam kết chỉnh sửa: mấy lần, trong bao lâu, sửa lỗi nào.

Mức chào thấp bất thường thường đã cắt mất thứ gì

  • Bỏ bước cho vải co trước, dẫn tới vỏ chật sau lần giặt đầu tiên.
  • Bỏ vải lót, khiến vỏ nhăn và lộ đường ghép khi ngồi lên.
  • Thay bo viền bằng diễu chỉ đơn.
  • Chỉ tính thân ghế, còn vỏ đệm và vỏ gối để lần sau.
  • Không tính lượt lắp thử, nên mọi lần chỉnh phom đều thành phát sinh.

Không phải mức chào thấp nào cũng đáng ngờ: xưởng gần nhà, sẵn cây vải tồn khổ rộng, hoặc dáng ghế phổ thông có rập sẵn đều là lý do chính đáng. Việc cần làm là xác định lý do nằm ở đâu; trang hỏi đáp nhận câu hỏi cho những dòng khó hiểu.

Hỏi gì trước khi gật đầu

  1. Cần bao nhiêu mét, trên khổ vải nào, đã gồm hao trùng khớp hoa văn chưa?
  2. Vải có được cho co trước khi cắt không, sau này giặt cách nào là an toàn?
  3. Bên trong có lót không, mép có bo không, khóa loại nào?
  4. Đặt thêm một lớp nữa ngay bây giờ thì khoản nào không phải tính lại?
  5. Sau khi giao, được chỉnh phom mấy lần và trong bao lâu?

Những câu đó buộc tờ chào giá hiện rõ từng dòng, và khi các dòng đã rõ thì so sánh thành chuyện số học đơn giản. Cách chúng tôi đối chiếu thông tin được mô tả ở tiêu chuẩn biên tập; khi khảo sát hoàn tất, số liệu sẽ được bổ sung vào khu vực bảng giá.