Bảng dưới đây tổng hợp từ khảo sát giá công khai trên thị trường (không phải dữ liệu nội bộ TìmSofa), tham khảo vào 07/2026 – dùng để hình dung mặt bằng chung trước khi so sánh báo giá, không phải mức giá TìmSofa cam kết hay báo giá cho đơn hàng cụ thể.
| Hạng mục | Khoảng giá tham khảo |
|---|---|
| Theo chất liệu bọc (mỗi m² bề mặt) | 7 – 26 triệu/m² |
| Sofa băng theo kích thước | 3,5 triệu – trên 15 triệu |
Đóng theo yêu cầu trực tiếp tại xưởng thường tiết kiệm khoảng 15 – 30% so với mua hàng dựng sẵn tại showroom.
Đóng sofa theo yêu cầu là một đơn hàng sản xuất, không phải món hàng có sẵn trên kệ. Cùng một bản vẽ, hai xưởng vẫn báo ra hai con số lệch nhau đáng kể, và phần lớn khoảng lệch đó không nằm ở chuyện xưởng nào đắt hơn, mà ở chuyện họ tính bao nhiêu khoản mục vào bản báo giá.
Về bảng tham khảo ở trên: đây là số liệu tổng hợp từ khảo sát thị trường công khai (xem nguồn ở trên), không phải dữ liệu nội bộ đã được TìmSofa xác minh trực tiếp – chỉ dùng để hình dung mặt bằng chung. Phần dưới đây giải thích giá được cấu thành từ đâu, giúp bạn tự đánh giá được báo giá mình nhận có hợp lý không.
Một bộ sofa đóng mới được tính tiền theo mấy loại đơn vị
Nhiều người đặt đóng lần đầu nghĩ sofa được tính theo “cái” hoặc theo “chỗ ngồi”. Thực tế xưởng cộng lại nhiều dòng chi phí, mỗi dòng có đơn vị đo riêng:
- Mét dài và mét khối gỗ cho khung: thanh gỗ làm sườn, chân, đố ngang, cộng ván cho mặt ngồi và hông.
- Tấm mút theo tỷ trọng và độ dày. Cắt lẻ từ tấm lớn thì phần dư không dùng được vẫn phải tính vào.
- Mét vải theo khổ, hoặc diện tích da. Hai cách đo này không quy đổi thẳng cho nhau, nên phần bọc của hai báo giá dùng hai chất liệu khác nhau không thể đặt cạnh nhau một cách cơ học.
- Giờ công thợ cho cắt, may, đóng khung, bọc hoàn thiện.
- Số món phụ kiện: chân, ray, bản lề, khóa giường kéo, nút bọc.
- Quãng đường và số tầng cho giao hàng, bốc vác, lắp đặt.
Vì nhiều khoản đo theo diện tích hoặc thể tích, nới kích thước không làm chi phí tăng tuyến tính. Nới chiều sâu chỗ ngồi vài phân kéo theo mút dày hơn trên cả mặt bằng, vải nhiều hơn theo cả chu vi, đôi khi buộc đổi khổ vải vì khổ cũ không đủ trải một mảnh liền.
Bảng cấu thành giá: đọc theo khoản mục, không đọc theo tổng
Bảng dưới đây là bộ khung để đối chiếu bất kỳ báo giá nào. Khoản có trong bảng mà không có trong báo giá bạn nhận chưa chắc là thiếu sót, nhưng bạn nên hỏi nó đã được gộp vào đâu.
| Khoản mục | Đơn vị tính thường dùng | Điều làm khoản này tăng hoặc giảm |
|---|---|---|
| Khung xương gỗ | Mét dài thanh gỗ, mét khối, tấm ván | Tăng khi dùng gỗ cứng đã sấy và xử lý chống mối, khi sofa dài hoặc có góc chữ L cần nhiều mối nối. Giảm khi dùng gỗ ghép hoặc ván công nghiệp cho phần không chịu lực |
| Hệ đàn hồi dưới mặt ngồi | Mét dài dây đai, số lò xo | Tăng với lò xo túi độc lập hoặc lò xo zigzag mật độ dày. Giảm khi chỉ dùng dây đai đan chéo |
| Mút đệm ngồi và lưng | Tấm, mét khối, số lớp theo độ dày | Tăng theo tỷ trọng mút, số lớp ghép, việc dùng mút hoạt tính hay lông vũ ở lớp ngoài. Giảm khi dùng một lớp mút tỷ trọng thấp |
| Vải hoặc da bọc | Mét vải theo khổ, diện tích tấm da | Tăng khi hoa văn phải chạy khớp, khi khổ vải hẹp buộc nối nhiều mảnh, khi dùng da thật nguyên tấm. Giảm với vải trơn khổ rộng |
| Vải dự trù và hao hụt | Phần trăm trên tổng mét vải | Tăng với vải kẻ, vải hoa, chi tiết bo cong, bọc nút. Giảm với thiết kế mảng phẳng, đường cắt vuông |
| Công cắt và may | Giờ công, số vỏ bọc, số đường may | Tăng khi có chần chỉ trang trí, viền cuốn, khóa kéo rời từng vỏ. Giảm khi vỏ liền, đường may đơn giản |
| Công đóng khung và bọc hoàn thiện | Ngày công thợ, số món | Tăng với dáng bo tròn, tay vịn cuốn, lưng chần ô. Giảm với dáng vuông vức, mảng lớn |
| Phụ kiện chức năng | Bộ, chiếc | Tăng khi có ray giường kéo, cơ cấu ngả lưng, ngăn chứa đồ, chân kim loại đặc chế. Giảm khi dùng chân gỗ tiêu chuẩn |
| Xử lý bề mặt theo yêu cầu | Mét vuông diện tích bọc | Tăng khi phủ chống thấm, chống bám bẩn. Giảm khi giữ nguyên bề mặt gốc của vải |
| Làm mẫu duyệt trước | Lần làm mẫu | Tăng khi khách yêu cầu duyệt mẫu thật. Giảm khi chốt trên bản vẽ và mẫu vải nhỏ |
| Vận chuyển, bốc vác, lắp đặt | Quãng đường, số tầng, số kiện | Tăng khi không có thang máy, khi phải tháo lắp tại chỗ, khi giao ngoài khu vực phục vụ. Giảm khi giao nội khu, lối vào rộng |
| Bảo hành | Tháng hoặc năm, theo bộ phận | Tăng khi mở rộng sang phần bọc và mút. Giảm khi chỉ bảo hành riêng khung xương |
Trọn gói hay bóc tách: hai cách trình bày cùng một khối chi phí
Bản trọn gói
Xưởng đưa một con số duy nhất cho cả bộ, mô tả cấu hình ở mức khái quát. Cách này gọn và người bán chịu rủi ro nếu định mức thực tế vượt dự tính — nên họ thường tính sẵn một biên an toàn vào bên trong. Hệ quả là khi bạn muốn đổi một chi tiết, không có cơ sở nào để cộng trừ minh bạch, mọi điều chỉnh thành thương lượng lại từ đầu. Bạn cũng không kiểm chứng được xưởng dự trù bao nhiêu mét vải hay tỷ trọng mút nào, nên nếu hàng giao về không như kỳ vọng, bạn thiếu bằng chứng để đối chiếu.
Bản bóc tách
Mỗi khoản mục có dòng riêng, ghi rõ đơn vị tính, định mức và quy cách. Bạn thấy ngay sofa của mình tốn bao nhiêu mét vải, mút mấy lớp tỷ trọng bao nhiêu, khung gỗ gì. Khi cần hạ chi phí, bạn biết chính xác nên cắt ở đâu mà ít ảnh hưởng độ bền. Đổi lại, bản này dài, và nếu định mức tính thiếu thì phần vượt có thể được cộng khi quyết toán — vì vậy hãy hỏi luôn: định mức trong bảng là cố định hay điều chỉnh theo thực tế cắt.
Nếu bạn có một bản trọn gói và một bản bóc tách, đừng so hai con số cuối. Hãy lấy bản bóc tách làm bảng kiểm, đọc từng dòng và hỏi bên báo trọn gói xem dòng đó đã nằm trong giá chưa. Chênh lệch thường lộ ra ở bốn chỗ: loại gỗ khung, tỷ trọng mút, số mét vải dự trù, phạm vi bảo hành. Nếu bạn đang cân nhắc giữa đóng mới và bọc lại sofa cũ, cách đối chiếu này vẫn dùng được, chỉ bỏ dòng khung ra khỏi bảng.
Những khoản có thói quen xuất hiện sau khi bạn đã đặt cọc
Không phải khoản nào bị để ngoài cũng là cố ý giấu — nhiều khoản chỉ xác định được khi đã đo thực tế hoặc đã chốt vải. Vấn đề là chúng hay được nhắc tới muộn, lúc bạn không còn nhiều lựa chọn.
- Hao hụt vải do khớp hoa văn. Vải kẻ, vải hoa lớn, vải có chiều tuyết đều buộc cắt theo hướng cố định và bỏ nhiều phần dư. Hỏi số mét dự trù ngay khi chọn vải, đừng đợi tới lúc cắt.
- Chi phí đưa hàng vào nhà. Sofa đóng liền khối không qua được cầu thang xoắn hay cửa thang máy là tình huống rất hay gặp. Giải pháp là chia module hoặc bọc tại chỗ, cả hai đều phát sinh công. Đo lối vào trước khi chốt bản vẽ là việc rẻ nhất bạn có thể làm.
- Phụ kiện được coi là mặc định. Chân sofa, gối tựa rời, tấm chắn bụi mặt đáy — có nơi tính trong giá, có nơi tính riêng. Hỏi cụ thể: bộ này giao gồm mấy gối, chân loại nào, cao bao nhiêu.
- Sửa sau khi đã cắt vải. Đổi ý về độ cao tay vịn hay chiều sâu chỗ ngồi lúc vải đã lên khung gần như luôn tính thêm, vì phần vải đã cắt không dùng lại được.
- Điều kiện bảo hành. Bảo hành khung và bảo hành phần bọc là hai chuyện khác nhau. Nhiều bản chỉ ghi thời hạn dài cho khung, còn xẹp mút và bung chỉ nằm ngoài.
- Xử lý bề mặt thêm. Phủ chống thấm cho nhà có trẻ nhỏ hoặc thú cưng thường tính theo diện tích bọc chứ không theo bộ.
Chỗ nào đội chi phí mà không làm sofa bền hơn
Nhóm gắn với tuổi thọ gồm: chất lượng và độ khô của gỗ khung, liên kết mộng thay vì chỉ bắn đinh, hệ đàn hồi dưới mặt ngồi, tỷ trọng mút, độ bền mài mòn của vải bọc. Cắt ở nhóm này là mua rẻ hai lần.
Nhóm gắn với thẩm mỹ và độ phức tạp gia công gồm: đường bo cong nhiều lớp, chần ô bọc nút, viền cuốn tương phản, chân kim loại đặc chế, số gối trang trí. Nhóm này ăn công thợ và vải dự trù nhưng gần như không ảnh hưởng tới việc sofa còn dùng tốt sau nhiều năm hay không — nên khi cần gọn ngân sách mà giữ chất lượng, đây là nơi nhìn đầu tiên. Vai trò từng lớp bên trong có ở mục đệm mút và khung sofa.
Sáu câu hỏi mang theo khi đi lấy báo giá
- Khung dùng gỗ gì, đã sấy chưa, liên kết mộng hay đinh, bảo hành riêng cho khung bao lâu?
- Mút ngồi mấy lớp, tỷ trọng từng lớp, tổng độ dày sau khi bọc?
- Vải hoặc da mã gì, nhà cung cấp nào, dự trù bao nhiêu mét cho bộ này?
- Giá đã gồm vận chuyển, bốc lên tầng, lắp đặt và mang bao bì đi chưa?
- Nếu sofa không qua được lối vào thì xử lý thế nào, ai chịu phần phát sinh?
- Mốc nào là cuối cùng để chỉnh kích thước mà chưa tính thêm?
Xưởng trả lời trôi chảy cả sáu câu thường là xưởng thực sự kiểm soát định mức của mình. Câu trả lời chung chung kiểu “gỗ tự nhiên, mút cao cấp” không hẳn nghĩa là họ làm ẩu, nhưng bạn sẽ không có căn cứ nào để đối chiếu khi hàng về. Cách chuẩn bị trước khi đặt hàng có thêm ở mục kiến thức chọn mua, còn cách quy đổi nhu cầu không gian sang kích thước sofa nằm ở chuyên mục riêng.
Khi nào một báo giá thấp là đáng mừng, khi nào là đáng lo
Giá thấp hợp lý luôn có lý do nói ra được và kiểm chứng được: xưởng tự làm khung nên không qua trung gian, đang có sẵn lô vải tồn hợp mẫu bạn chọn, thiết kế bạn đặt ít chi tiết nên nhẹ công, hoặc nhà bạn gần xưởng.
Giá thấp đáng lo thì ngược lại: thấp mà không giải thích được, và khi đối chiếu theo bảng cấu thành ở trên thì nhiều dòng bỏ trống — không nêu loại gỗ, không nêu tỷ trọng mút, không nêu mã vải, không nêu số mét dự trù, không nêu phạm vi bảo hành. Năm khoảng trống đó thường chính là nơi khoản tiết kiệm đến từ, và bạn chỉ phát hiện sau vài mùa sử dụng, khi mặt ngồi bắt đầu võng hoặc mối nối khung phát ra tiếng kêu.
Kỹ năng cần có, vì vậy, không phải là biết một bộ sofa nên có giá bao nhiêu, mà là biết một báo giá phải nói được những gì. Con số thay đổi theo mùa, theo nguồn nguyên liệu; bộ khoản mục thì gần như không đổi. Xem thêm nội dung liên quan trong mục bảng giá và hỏi đáp.