Chất liệu
Khung sofa gỗ cao su: đọc mối ghép để biết khung tốt hay xấu
Những đường răng lược trên mặt cắt thanh gỗ không phải lỗi sản xuất. Đó là mối ghép ngón, và nó nói nhiều về tuổi thọ khung hơn cả tên loại gỗ.
Lật ngửa một bộ sofa khung gỗ cao su rồi soi mặt cắt thanh đố ngang, thứ đập vào mắt trước tiên thường là những đường răng lược cài vào nhau như hai bàn tay đan ngón. Đó không phải vết nứt hay dấu hiệu gỗ tạp chắp vá, mà là mối ghép ngón, cấu trúc đặc trưng của gỗ ghép thanh và là chi tiết quyết định phần lớn tuổi thọ bộ khung.
Gỗ cao su gần như không bao giờ xuất hiện trên khung sofa dưới dạng thanh nguyên khối dài. Hiểu vì sao như vậy, và thế nào là mối ghép đạt, giúp đánh giá khung chính xác hơn nhiều so với việc chỉ nghe tên loại gỗ.
Vì sao gỗ cao su hầu như luôn ở dạng ghép thanh
Cây cao su được trồng để lấy mủ, không phải lấy gỗ. Sau vài chục năm khai thác, khi lượng mủ giảm, vườn cây được thanh lý và phần thân mới trở thành nguyên liệu gỗ. Thân cây có đường kính vừa phải, không thẳng đều và mang rất nhiều mắt do cạo mủ cùng việc tỉa cành.
Khi xẻ ra, người ta buộc phải cắt bỏ các đoạn có mắt chết, vết nứt và phần lõi biến màu. Cái còn lại là những đoạn gỗ ngắn, sạch khuyết tật nhưng không đủ dài cho một thanh khung hoàn chỉnh. Ghép thanh là giải pháp kỹ thuật bắt buộc, không phải mánh khóe cắt giảm chi phí.
Điểm thứ hai: gỗ cao su tươi chứa nhiều tinh bột và đường trong mạch gỗ, tức thức ăn lý tưởng cho mọt và nấm mốc. Giá trị của bộ khung cao su vì thế nằm gọn ở hai khâu, xử lý chống mọt và chất lượng mối ghép. Bỏ khâu nào cũng cho ra bộ khung nhìn giống hệt hàng tốt trong năm đầu.
Ba dạng mối ghép thường gặp trên khung sofa gỗ cao su
Trên cùng một bộ khung, thợ dùng các kiểu ghép khác nhau cho từng vị trí chịu lực khác nhau, và mỗi kiểu có điểm yếu riêng cần soi.
| Kiểu ghép | Nhận biết bằng mắt | Vị trí thường dùng | Chỗ cần soi kỹ |
|---|---|---|---|
| Ghép ngón lộ mặt | Răng lược thấy trên mặt rộng của thanh | Thanh đố ngang, chân đế, khung lưng | Răng ghép có đều và khít đến chân răng |
| Ghép ngón lộ cạnh | Răng lược chỉ thấy ở cạnh hẹp | Thanh chịu lực chính, thành tay | Mạch keo ở cạnh có hở hình nêm |
| Ghép cạnh thành tấm | Nhiều thanh dán song song tạo bản rộng | Ván đế ngồi, vách hông | Đường dán có gợn sóng hay lệch cốt |
Kiểu ghép ngón lộ cạnh thường được ưu tiên cho thanh chịu lực vì diện tích tiếp xúc keo lớn và mặt rộng không bị cắt đứt thớ. Ghép cạnh thành tấm chủ yếu để tạo bản rộng, không phải để chịu uốn.
Mạch keo và lực ép nói lên điều gì
Mối ghép ngón đạt có mạch keo mảnh, liên tục, màu sát với màu gỗ và không thấy khe hở khi soi nghiêng dưới ánh sáng. Mối ghép kém cho vệt keo dày, đôi khi tràn ra rồi bị mài phẳng để lại vệt bóng khác màu, hoặc lộ khe nhỏ hình tam giác ở đáy răng ghép.
Nguyên nhân thường nằm ở ba chỗ. Một là độ ẩm: gỗ chưa sấy đủ khi ghép sẽ tiếp tục co ngót, kéo mạch keo hở dần dù ban đầu nhìn rất khít. Hai là lực ép và thời gian giữ ép, ép non thì keo không thấm hết vào mạch gỗ. Ba là loại keo, thứ người mua gần như không kiểm tra được.
Có một phép thử đơn giản khi xem hàng: dùng móng tay miết ngang qua mạch keo trên cạnh thanh. Mối ghép tốt cho cảm giác liền một mặt phẳng. Nếu móng tay vướng nhẹ hoặc cảm nhận được rãnh, mạch keo đã tách hoặc bị mài lệch ngay từ xưởng.
Đặt gỗ cao su ghép thanh cạnh các lựa chọn khung khác
Bảng dưới chỉ nói về tương quan, vì chất lượng thực tế còn phụ thuộc khâu xử lý của từng nhà sản xuất. Xem thêm tại chuyên mục khung sofa.
| Tiêu chí | Cao su ghép thanh | Sồi, tần bì | Thông | Ván ép nhiều lớp |
|---|---|---|---|---|
| Độ cứng bề mặt | Trung bình khá | Cao | Thấp | Không áp dụng |
| Khả năng giữ vít | Khá, nếu ghép đạt | Rất tốt | Yếu, dễ toét lỗ | Tốt theo phương mặt ván |
| Ổn định khi đổi ẩm | Tốt nhờ ghép xen thớ | Khá | Trung bình | Rất tốt |
| Rủi ro mọt nếu xử lý kém | Cao | Thấp | Trung bình | Thấp |
| Mức giá tương đối | Thấp đến trung bình | Cao nhất nhóm | Thấp nhất nhóm | Trung bình |
Đọc bảng theo hướng chi phí sẽ rõ hơn. Phần chênh khi bỏ gỗ cao su để lên sồi hay tần bì chủ yếu mua thêm độ cứng và khả năng giữ vít. Nhưng ngay trong nhóm gỗ cao su, phần chênh giữa hàng sấy tẩm đầy đủ và hàng xử lý sơ sài mới là khoản đáng trả nhất, vì nó quyết định khung có sống qua vài mùa nồm hay không.
Sáu bước kiểm tra khung gỗ cao su trước khi chốt đơn
- Xin xem mẫu thanh khung rời hoặc ảnh khung trần trước khi bọc, vì khung đã bọc kín gần như không kiểm tra được gì.
- Soi mặt cắt tìm mối ghép ngón, xem răng ghép có đều và khít đến chân răng không.
- Miết móng tay dọc mạch keo ở cạnh thanh, tìm cảm giác vướng hoặc rãnh.
- Gõ ngón tay vào thân thanh: gỗ sấy đạt cho tiếng đanh gọn, gỗ còn ẩm cho tiếng trầm và bí.
- Kiểm tra vị trí bắt vít. Vít không nên đóng trúng ngay mạch keo, vì đó là điểm yếu nhất của thanh ghép.
- Lật đế, soi các cạnh không phủ sơn để tìm lỗ kim, vệt xanh xám hoặc bụi gỗ. Đây là chỗ ít gia công nhất nên trung thực nhất.
Gỗ ghép không đồng nghĩa với gỗ kém
Hiểu sai thứ nhất: ghép thanh là gỗ vụn nên kém hơn nguyên khối. Mỗi đoạn trong thanh ghép đều đã bị loại mắt và khuyết tật, còn thanh nguyên khối thì mắt nằm đâu phải chịu đó. Xét về chống cong vênh, thanh ghép xen thớ thường ổn định hơn.
Hiểu sai thứ hai: gỗ cao su là gỗ tạp. Đây là gỗ cứng nhóm trung bình, thớ mịn và ăn sơn tốt. Vấn đề không nằm ở bản chất gỗ mà ở hàm lượng tinh bột, tức nằm ở khâu xử lý.
Hiểu sai thứ ba: nhìn vân gỗ đẹp là gỗ tốt. Phần lớn khung được sơn phủ hoặc khuất trong lớp bọc, nên vân nhìn thấy đôi khi chỉ là hiệu ứng sơn. Mạch keo và mặt cắt mới đáng tin.
Hiểu sai thứ tư: khung nào cũng như nhau vì đằng nào cũng bọc kín. Chính vì bị bọc kín mà khung hỏng chỉ lộ ra khi đã muộn, dưới dạng tiếng cót két hoặc mặt ngồi võng lệch, lúc đó đã sang phần khắc phục hư hỏng.
Phân biệt gỗ cao su đạt và không đạt xử lý
Hai bộ khung cùng tên gỗ và cùng kiểu ghép vẫn có thể khác nhau hoàn toàn ở khâu này. Xử lý đầy đủ gồm hai phần: ngâm hoặc tẩm hóa chất chống mọt nấm ngay sau khi xẻ, rồi sấy hạ độ ẩm về mức ổn định trước khi ghép. Bỏ bước tẩm, gỗ còn nguyên tinh bột. Bỏ bước sấy, mạch keo sẽ hở khi gỗ tiếp tục khô.
| Dấu hiệu | Gỗ đã xử lý đạt | Gỗ chưa hoặc xử lý thiếu |
|---|---|---|
| Màu gỗ | Kem sáng, đồng đều cả thanh | Loang vệt xanh xám hoặc nâu sẫm |
| Mùi | Gần như không mùi | Mùi chua hoặc ẩm mốc khi ghé sát |
| Bề mặt | Khô ráo, không dính tay | Hơi ẩm hoặc bết nhẹ ở mặt cắt |
| Lỗ mọt | Không thấy | Lỗ tròn cỡ đầu tăm, đôi khi rất thưa |
| Tiếng gõ | Đanh, gọn | Trầm và bí |
| Sau vài tuần dùng | Không dấu vết lạ dưới chân | Bụi gỗ mịn rơi dưới sàn cạnh chân sofa |
Dấu hiệu cuối là dấu hiệu muộn nhưng chắc chắn nhất: bụi gỗ mịn màu vàng nhạt xuất hiện lặp lại ở cùng một chỗ sau khi đã lau sạch nghĩa là bên trong khung đang có mọt hoạt động, và lượng bụi sẽ tăng dần.
Khung cao su dù xử lý đạt vẫn nên tránh kê sát tường ẩm hoặc phòng kín ít thông gió mùa nồm. Nguyên tắc giữ khô nằm ở nhóm bài bảo quản sofa, còn tương quan giữa khung với các lớp phía trên có ở phần đệm mút và chất liệu sofa.
Tóm lại, tên gỗ chỉ nói được một nửa. Nửa còn lại nằm ở mạch keo trên mặt cắt và màu gỗ dưới mặt đế, hai chỗ mất vài phút để nhìn nhưng quyết định bộ khung dùng được bao lâu.