Miễn phí vận chuyển toàn quốc Tư vấn chọn sofa 24/7 0909 888 668 Hỗ trợ đại lý / Doanh nghiệp

Kích thước

Kích thước sofa đơn: dải số đo tham chiếu và cách đo ghế đơn tại nhà

Sofa đơn nhìn thì nhỏ nhưng lại là món dễ mua hụt nhất: chỉ lệch vài centimet bề rộng hoặc thiếu chỗ xoay người là cả góc phòng thành khó dùng. Bài viết bóc tách từng số đo và cách tự đo lại bằng thước dây.

Ghế sofa đơn là món đồ hay bị mua theo cảm tính nhất trong phòng khách. Nó nhỏ, nó lẻ, nhìn qua thì tưởng kê đâu cũng được. Nhưng chính vì lẻ nên nó phải tự đứng vững về tỷ lệ: đặt cạnh một chiếc băng cao lưng, một ghế đơn thấp bé sẽ trông như đồ trẻ con; đặt trong góc hẹp, một ghế đơn bè ngang sẽ chặn luôn đường đi. Bài viết đi qua từng số đo của ghế đơn, phân biệt rõ ghế kê rời với ghế nằm trong bộ, và hướng dẫn cách tự cầm thước đo thay vì tin vào một bảng tra chung.

Ghế đơn gồm những số đo nào

Một chiếc ghế đơn cũng có đủ bộ số đo như sofa băng, chỉ khác là mỗi centimet ở đây có sức nặng lớn hơn vì tổng thể vốn đã nhỏ.

Nhóm phủ bì quyết định ghế có vừa chỗ và có vào lọt nhà không:

  • Bề rộng phủ bì: từ mép ngoài tay vịn bên này sang mép ngoài tay vịn bên kia, tính cả phần vải bọc phồng ra.
  • Độ sâu phủ bì: từ điểm nhô ra xa nhất của lưng tới mép trước nệm ngồi.
  • Chiều cao tổng: từ sàn tới điểm cao nhất của lưng ghế hoặc gối tựa.

Nhóm tiện nghi quyết định ngồi có dễ chịu không:

  • Rộng mặt ngồi: khoảng lọt giữa hai tay vịn, phần thân bạn thực sự chiếm.
  • Sâu mặt ngồi: từ chân lưng tựa tới mép trước nệm.
  • Cao mặt ngồi: từ sàn lên mặt nệm khi chưa có người ngồi.
  • Cao tay vịn: từ sàn lên mặt trên tay vịn.

Với ghế đơn, cặp số dễ gây hiểu nhầm nhất là bề rộng phủ bì và rộng mặt ngồi. Một chiếc ghế rộng phủ bì 95 cm nhưng tay vịn khối vuông dày có thể chỉ còn khoảng lọt 55 cm, chật hơn hẳn một chiếc rộng phủ bì 80 cm tay vịn mảnh. Khi hỏi người bán, hãy hỏi rõ con số được đo từ đâu tới đâu.

Ghế đơn kê rời và ghế đơn trong bộ: hai bài toán số đo khác nhau

Đây là điểm phân nhánh quan trọng nhất mà rất ít người để ý trước khi mua. Cùng gọi là ghế đơn, nhưng hai loại này chịu ràng buộc kích thước hoàn toàn khác nhau.

Ghế đơn trong bộ được nhà sản xuất thiết kế đồng bộ với chiếc băng đi kèm. Chiều cao lưng, chiều cao mặt ngồi, độ sâu, kiểu tay vịn và độ lún nệm đều được kéo về cùng một hệ. Ưu điểm là khi kê cạnh nhau, đường lưng và đường tay vịn thẳng hàng, mắt nhìn thấy gọn. Nhược điểm là kích thước bị kéo theo băng: băng sâu 95 cm thì ghế đơn cũng sâu xấp xỉ, dù bạn chỉ cần một chiếc ghế mỏng hơn để đỡ chật góc phòng.

Ghế đơn kê rời không phải đồng bộ với ai nên tỷ lệ tự do hơn nhiều: thường nông hơn, chân cao và mảnh hơn, lưng có thể rất cao kiểu ghế bành hoặc rất thấp kiểu ghế ngả. Sự tự do đó là con dao hai lưỡi. Ghép nhầm một chiếc lệch chiều cao mặt ngồi so với băng thì hai người ngồi cạnh nhau sẽ ở hai tầm mắt khác nhau, nói chuyện phải ngước hoặc cúi.

Tiêu chí Ghế đơn trong bộ Ghế đơn kê rời
Ràng buộc kích thước Bám theo chiếc băng cùng bộ Tự do, phụ thuộc kiểu dáng riêng
Độ sâu phủ bì Thường bằng hoặc gần bằng băng Thường nông hơn băng
Chiều cao lưng Đồng bộ với băng Chênh lệch lớn giữa các kiểu
Số đo phải đối chiếu khi ghép Hầu như không cần đối chiếu Cao mặt ngồi, cao tay vịn, cao lưng
Khả năng di chuyển trong phòng Thấp, thường kê cố định Cao, hay được xoay đổi hướng
Rủi ro chính Chiếm sâu quá mức cần thiết Lệch tỷ lệ so với đồ đã có

Lợi ích thực tế của việc phân biệt sớm: nếu bạn mua ghế đơn để ghép vào bộ sẵn có, hãy đo chiếc băng nhà mình trước, mang ba con số cao mặt ngồi, cao tay vịn và cao lưng đi theo, rồi đối chiếu tại chỗ. Nếu bạn mua ghế đơn để kê rời ở góc đọc sách hay cạnh cửa sổ, ba con số đó không quan trọng bằng độ sâu phủ bì và khoảng trống bạn có thể chừa quanh ghế.

Dải số đo tham chiếu theo kiểu ghế đơn

Không có cơ quan nào quy định ghế rộng bao nhiêu thì được gọi là ghế đơn. Bảng dưới là dải quan sát được trên thị trường, dùng để khoanh vùng khi mới bắt đầu tìm, không phải thước đo đúng sai.

Kiểu ghế đơn Rộng phủ bì tham chiếu Sâu phủ bì tham chiếu Đặc điểm thường gặp
Ghế đơn dáng mảnh khoảng 65-80 cm khoảng 70-80 cm Tay vịn mỏng, chân cao, hợp góc hẹp
Ghế đơn phổ thông khoảng 80-95 cm khoảng 80-90 cm Dải hay gặp nhất, cân bằng giữa gọn và êm
Ghế bành lưng cao khoảng 80-100 cm khoảng 85-95 cm Lưng đỡ tới vai gáy, chiếm nhiều tầm nhìn
Ghế đơn thuộc bộ sofa khoảng 85-105 cm bám theo băng cùng bộ Đồng bộ đường nét, sâu theo băng
Ghế đơn khối lớn trên 105 cm khoảng 90-100 cm Ngồi được kiểu vắt chân, cần phòng rộng
Số đo tiện nghi Dải tham chiếu Ý nghĩa khi ngồi
Rộng mặt ngồi khoảng 50-65 cm Dưới cạnh thấp thì bó hông, trên cạnh cao thì ngồi được vắt chân
Sâu mặt ngồi khoảng 48-58 cm Sâu quá thì lưng hụt tựa, nông quá thì đùi không được đỡ
Cao mặt ngồi khoảng 38-45 cm Quyết định việc đứng lên ngồi xuống có nhẹ nhàng không
Cao lưng tổng khoảng 75-105 cm Dải rộng vì gồm cả ghế lưng thấp lẫn ghế bành lưng cao
Cao tay vịn khoảng 55-68 cm Chênh lệch với mặt ngồi mới là con số đáng quan tâm

Vì sao dải rộng đến vậy? Vì mỗi nhà sản xuất định nghĩa một chiếc ghế đơn theo cách riêng: bề dày tay vịn, độ phồng của lớp bọc, chiều dày đệm lưng, kiểu chân đều khác nhau và không bên nào phải theo bên nào. Bảng tra chỉ giúp bạn loại nhanh những mẫu chắc chắn không vừa. Con số dùng để quyết định phải là số đo lấy từ chính chiếc ghế bạn sắp mua.

Về nhân trắc, nên nhớ nguyên tắc thay vì con số. Cao mặt ngồi nên xấp xỉ chiều cao từ sàn tới hõm khoeo chân của người ngồi chính, để bàn chân đặt phẳng mà mép nệm không ép mặt dưới đùi. Sâu mặt ngồi nên ngắn hơn chiều dài đùi một chút. Tay vịn nên cao hơn mặt ngồi vừa đủ để cẳng tay đặt lên mà vai không phải nhô. Đây là các quan hệ theo hướng, không nên quy thành công thức số học vì tỷ lệ cơ thể mỗi người mỗi khác.

Quy trình đo ghế đơn tại nhà theo từng bước

Cầm thước dây, một cuộn băng dính giấy và một tờ giấy ghi. Ghi tất cả bằng centimet.

  1. Đo khoảng đặt ghế. Đo bề ngang và chiều sâu của chỗ bạn định kê, sát chân tường. Trừ đi phào chân tường, ổ điện nhô ra, cánh cửa mở vào, mép rèm buông xuống.
  2. Dán khung xuống sàn. Dùng băng dính giấy vẽ hình chữ nhật theo rộng và sâu phủ bì của mẫu ghế bạn nhắm. Để nguyên vài ngày và đi lại quanh nó.
  3. Đo đường vận chuyển. Chiều rộng cửa, lòng thang máy, khúc cua hành lang, chiếu nghỉ cầu thang. Ghế đơn thường lọt dễ hơn băng nhưng ghế bành lưng cao vẫn có thể vướng ở khúc cua.
  4. Đo ghế mẫu phần phủ bì. Đo bề rộng tại điểm rộng nhất, thường là mép ngoài tay vịn chứ không phải mép nệm. Đo độ sâu tại điểm lưng nhô ra xa nhất.
  5. Đo phần ngồi. Đo khoảng lọt giữa hai tay vịn, sâu mặt ngồi và cao mặt ngồi khi chưa có người ngồi.
  6. Đo lại khi đã ngồi. Ngồi xuống ở tư thế thật, nhờ người khác đo lại cao mặt ngồi. Chênh lệch hai lần cho biết nệm lún bao nhiêu, con số này không có trong bất kỳ bảng tra nào.
  7. Nếu ghép vào bộ sẵn có. Đối chiếu cao mặt ngồi, cao tay vịn và cao lưng của ghế đơn với chiếc băng nhà bạn. Chênh nhỏ thì mắt bỏ qua được, chênh lớn thì nhìn sẽ thành hai bộ khác nhau đặt cạnh nhau.
  8. Đối chiếu lần cuối. So số đo ghế thật với khung băng dính trên sàn. Lớn hơn dù chỉ vài centimet cũng nên sửa lựa chọn ngay tại bước này.

Nếu muốn khoanh vùng nhanh trước khi đi xem hàng, bạn có thể tham khảo công cụ chọn kích thước sofa, sau đó vẫn phải đem số đo ra đối chiếu với ghế thật.

Ghế đơn cần chỗ xoay, không chỉ chỗ đặt

  • Đo bề rộng theo mép nệm. Với ghế tay vịn dày, sai số có thể tới ba, bốn chục centimet. Luôn đo điểm rộng nhất của thân ghế.
  • Bỏ quên khoảng lọt giữa hai tay vịn. Đây mới là con số quyết định bạn ngồi có bó hông hay không, nhưng lại ít khi được ghi trong thông số.
  • Quên độ nhô của gối tựa. Nhiều ghế đơn có gối lưng mềm phồng ra phía sau khung, làm ghế không sát tường được như tính toán.
  • Không tính chân ghế choãi. Chân dạng chữ V hoặc chân xoay đế sao thường ăn rộng hơn thân ghế ở sát sàn, dễ vướng chân bàn hoặc mép thảm.
  • Bỏ qua hành trình ngả lưng. Với ghế có cơ chế ngả, độ sâu khi ngả có thể lớn hơn nhiều so với khi ngồi thẳng. Phải đo cả hai trạng thái.
  • Không đo bán kính xoay. Ghế đơn có đế xoay cần một vòng tròn trống quanh nó, không phải một hình chữ nhật.
  • Không đo độ lún nệm. Ghế cao mặt ngồi 44 cm nhưng lún sâu sẽ cho cảm giác thấp hơn hẳn ghế 41 cm nệm chắc, và đứng lên cũng nặng nhọc hơn.

Nguyên tắc đo tương tự cũng áp dụng cho các dòng khác, chỉ khác điểm cần chú ý, bạn có thể xem thêm số đo của sofa băngsofa góc.

Chỗ trống cần chừa quanh ghế đơn

Ghế đơn khác băng ở chỗ nó thường không dựa lưng vào tường mà đứng lẻ giữa phòng hoặc chếch ở góc. Vì thế nó cần chỗ ở cả bốn phía, và đây chính là phần hay bị bỏ qua nhất khi đo.

  • Phía trước: chỗ để hai bàn chân đặt phẳng và duỗi ra khi ngả người. Nếu có ghế đôn gác chân thì phải cộng thêm cả chiều dài chiếc đôn đó cùng khoảng hở giữa hai món.
  • Hai bên: khoảng hở đủ để người đi qua không quệt vào tay vịn, và đủ để bạn xoay người ra vào ghế mà không phải lách nghiêng.
  • Phía sau: nếu ghế có cơ chế ngả, phải chừa hành trình lưng lùi về sau. Nếu ghế đế xoay, phải chừa cả vòng quay của lưng ghế.
  • Phía trên: với ghế bành lưng cao kê dưới cửa sổ, kiểm tra xem lưng ghế có che mất mép kính hoặc chắn đường rèm không.

Cách kiểm tra đơn giản mà không cần con số cố định nào: sau khi dán khung ghế xuống sàn, hãy đặt thêm một chiếc ghế ăn vào đúng vị trí đó và thử ba động tác. Ngồi xuống, đứng lên, và đi vòng qua phía sau nó khi có người đang ngồi. Nếu bất kỳ động tác nào khiến bạn phải nghiêng người, thu vai hay đẩy đồ vật khác đi, chiếc ghế đơn bạn định mua đang quá lớn so với chỗ trống thực có. Giảm một bậc kích thước, hoặc đổi sang kiểu chân hở và lưng thấp, sẽ dễ chịu hơn nhiều so với việc cố nhét đúng mẫu đã ưng.

Ghế đơn cũng là món hay bị xê dịch: kéo lại gần khi có khách, đẩy ra xa khi cần chỗ trống. Khi tính khoảng trống, hãy tính cho cả trạng thái ghế bị kéo ra chứ không chỉ vị trí đứng yên lý tưởng.

Tóm lại, kích thước sofa đơn không nằm ở một con số bề rộng mà ở ba lớp: số đo phủ bì để biết ghế có vừa chỗ, số đo tiện nghi để biết ngồi có dễ chịu, và khoảng trống xung quanh để biết ghế có dùng được thoải mái. Dải tham chiếu chỉ giúp khoanh vùng, quyết định cuối cùng nên đến từ thước dây trong tay bạn. Xem thêm các bài trong mục bố trí nội thất để tính tiếp phần bàn trà, thảm và hướng kê.