So sánh
Da bò và da microfiber: hai vật liệu khác hẳn nhau bị gọi chung một tên
Cùng dán chữ "da", cùng sờ mềm mịn, nhưng một bên là da bò thật còn một bên không có sợi da động vật nào. Khác biệt lộ ra rõ nhất ở năm thứ ba.
Hai bộ sofa đặt cạnh nhau trong cùng một gian trưng bày, cùng dán tem có chữ “da”, sờ vào gần như không phân biệt được bằng tay không, nhưng giá chênh nhau vài lần. Một bộ bọc da bò thuộc thật. Bộ còn lại bọc microfiber, thứ vật liệu mà cả ngành nội thất quen gọi là “da microfiber” dù bên trong nó không có lấy một sợi da động vật.
Da bò là tấm da động vật đã thuộc, microfiber là vải không dệt phủ polyurethane
Da bò bọc sofa là lớp da sống của con bò, sau khi lột được ngâm thuộc bằng crom hoặc chất thuộc thảo mộc để cấu trúc collagen ngừng phân hủy và trở nên mềm dẻo. Tấm da này được lạng thành nhiều lớp theo chiều dày. Lớp trên cùng còn nguyên mặt biểu bì gọi là da nguyên mặt, lớp trên cùng đã chà nhẹ và phủ màu gọi là da mặt chỉnh, lớp dưới xơ hơn gọi là da lạng. Ba loại này chênh nhau nhiều về giá và tuổi thọ nhưng đều là da thật, đều giữ được bó sợi collagen đan chéo ba chiều vốn có.
Microfiber đi từ hướng ngược lại. Sợi polyester và polyamide được kéo mảnh hơn sợi tóc nhiều lần, xuyên kim thành một tấm nền không dệt, rồi tẩm dung dịch polyurethane cho bó sợi kết dính. Sau đó tấm nền được phủ thêm một lớp polyurethane ở mặt trên và ép qua khuôn dập vân giả lỗ chân lông. Toàn bộ quy trình được thiết kế với mục tiêu duy nhất: bắt chước cấu trúc bó sợi collagen của da thật. Đó là lý do microfiber sờ giống da hơn hẳn simili hay giả da PU thường, và cũng là lý do người mua bị nhầm.
Chữ “da” trên nhãn microfiber đến từ đâu
Không có quy định nào bắt buộc người bán sofa phải ghi rõ tấm bọc là vật liệu tổng hợp. Tên thương mại được đặt tự do, và những cách gọi như “da công nghiệp cao cấp”, “da nhập khẩu”, “da sợi nhỏ” đều đang được dùng để chỉ microfiber. Người bán không nhất thiết nói dối, họ chỉ dùng từ “da” theo nghĩa mô tả vẻ ngoài. Người mua thì hiểu từ đó theo nghĩa bản chất. Khoảng cách giữa hai cách hiểu là chỗ phát sinh hầu hết khiếu nại sau vài năm sử dụng.
Ba dấu hiệu nhận ra microfiber mà không cần dụng cụ
- Mép cắt và mặt sau. Lật một góc khuất ở đường may hoặc gầm ghế. Da bò có mặt sau xơ như nhung thô và không hề có nền vải dệt. Microfiber luôn lộ ra một lớp nền phẳng đều bên dưới lớp phủ, ranh giới giữa hai lớp thẳng như đường kẻ.
- Chu kỳ của vân. Vân trên microfiber do khuôn dập tạo ra nên lặp lại chính xác sau một khoảng cố định. Vân da bò biến đổi liên tục, chỗ dày chỗ thưa, đôi khi còn vết sẹo hoặc nếp cổ của con vật.
- Giọt nước và hơi ấm. Nhỏ một giọt nước lên mặt da bò mặt chỉnh, giọt nước thấm chậm và để lại vệt sẫm rồi bay đi. Trên microfiber giọt nước đọng nguyên hình tròn. Áp lòng bàn tay vài chục giây, da bò ấm dần và giữ ấm, microfiber trả nhiệt lại rất nhanh vì không thoáng khí.
Đối chiếu da bò và microfiber trên từng tiêu chí sử dụng
| Tiêu chí | Da bò thuộc | Microfiber |
|---|---|---|
| Bản chất | Da động vật, sợi collagen tự nhiên | Sợi polyester và polyamide phủ polyurethane |
| Độ thoáng khí | Có lỗ chân lông thật, thoát ẩm | Lớp phủ gần như kín, hầu như không thoát ẩm |
| Cảm giác ngồi mùa nóng | Mát hơn, ít bám mồ hôi lưng | Bí hơn, dễ đọng ẩm ở vùng tiếp xúc |
| Mùi vật liệu | Mùi da thuộc, nhạt dần theo thời gian | Gần như không mùi hoặc mùi nhựa nhẹ lúc mới |
| Chống móng vuốt | Kém, vết cào lộ lớp thịt da bên dưới | Tốt hơn nhờ nền sợi đan chịu móc |
| Chống thấm và vết bẩn | Hút vết dầu, cà phê nếu không xử lý ngay | Lau bằng khăn ẩm là sạch phần lớn vết |
| Đồng đều màu giữa các tấm | Chênh nhẹ theo vùng da, khó khớp tuyệt đối | Đồng nhất hoàn toàn, dễ ghép bộ lớn |
| Chịu nắng chiếu trực tiếp | Khô và bạc màu, cần dưỡng định kỳ | Lớp phủ giòn dần, đây là điểm yếu chí mạng |
| Chịu ẩm nồm kéo dài | Có thể mốc bề mặt, lau và hong là xử lý được | Ẩm đọng làm lớp keo nền suy yếu âm thầm |
| Khả năng phục hồi | Đánh dưỡng, nhuộm lại, vá cục bộ được | Bong lớp phủ là hỏng hẳn, chỉ còn cách bọc lại |
| Trọng lượng tấm bọc | Nặng hơn, kéo theo ghế nặng hơn | Nhẹ, dễ vận chuyển và thay tấm |
| Giá tương đối | Cao gấp nhiều lần trên cùng kích thước ghế | Rẻ hơn hẳn, chênh lớn nhất ở khoản này |
Mốc năm thứ ba: da bò rạn theo thớ, microfiber bong lớp phủ theo mảng
Đây là chỗ hai vật liệu tách hẳn ra, và cũng là chỗ mà lúc mua không ai nhìn thấy.
Da bò xuống cấp theo kiểu mòn dần. Vùng tay vịn và mép ngồi sẫm màu lại vì dầu từ da người thấm vào, tạo lớp bóng mà dân trong nghề gọi là patina. Nếu không được dưỡng, mặt da mất dầu, khô lại rồi rạn thành mạng chân chim chạy theo thớ sợi. Rạn này nông, nằm trên lớp hoàn thiện, và phần lớn trường hợp vẫn xử lý được bằng làm sạch rồi dưỡng lại. Ghế da bò ba năm tuổi nhìn cũ đi nhưng vẫn nguyên hình dạng, sờ vẫn ra chất da.
Microfiber xuống cấp theo kiểu tách lớp. Lớp polyurethane phủ trên và lớp nền sợi là hai vật liệu khác nhau, giãn nở khác nhau theo nhiệt và ẩm. Sau vài nghìn lần ngồi xuống đứng lên, cộng thêm nắng hắt và mồ hôi, liên kết giữa hai lớp yếu đi. Dấu hiệu đầu tiên là vài đốm mờ ở mép ngồi, sau đó lớp phủ nứt và bong ra thành mảng, để lộ nền vải trắng ngà bên dưới. Từ lúc thấy đốm đầu tiên đến lúc bong thành mảng thường rất nhanh, và không có sản phẩm dưỡng nào níu lại được vì thứ đang hỏng là lớp keo chứ không phải bề mặt.
Nói gọn: da bò già đi, microfiber thì đến hạn rồi hỏng. Hai kiểu kết thúc này đòi hai cách tính chi phí khác nhau, chi tiết hơn ở mục kinh nghiệm chọn mua.
Những điểm da bò thua microfiber dù đắt hơn nhiều lần
Đắt hơn không đồng nghĩa hợp hơn. Có mấy tình huống mà da bò là lựa chọn tệ:
- Nhà nuôi mèo. Móng mèo bám vào mặt da bò rất dễ và mỗi lần cào là một vệt rách nhìn thấy ngay, không phục hồi được về nguyên trạng. Nền sợi đan của microfiber chịu móc tốt hơn hẳn.
- Nhà có trẻ nhỏ ăn uống trên ghế. Sữa, nước hoa quả, dầu mỡ dính vào da bò mặt chỉnh nếu để qua đêm sẽ để lại vết sẫm vĩnh viễn. Trên microfiber, khăn ẩm là đủ.
- Không gian không ai dưỡng ghế. Da bò cần được lau bụi và dưỡng định kỳ. Bỏ mặc ba năm thì tuổi thọ tụt xuống rất nhanh, trong khi microfiber không đòi hỏi gì ngoài lau.
- Bộ sofa lớn nhiều mảnh. Da bò không thể đồng đều màu tuyệt đối giữa các tấm, còn microfiber cắt từ cùng một cuộn nên khớp hoàn hảo.
Khi đặt da bò cạnh microfiber là sai đề bài
Hai vật liệu này không phải lúc nào cũng là hai phương án của cùng một câu hỏi.
Thứ nhất, khi ngân sách nằm hẳn ở một phía. Nếu số tiền chỉ đủ cho một bộ microfiber loại tốt thì việc so nó với da bò là vô nghĩa; câu hỏi thật khi đó là microfiber tốt đấu với sofa vải loại tốt, vì đây mới là hai thứ cùng tầm tiền.
Thứ hai, khi ghế phục vụ mục đích thương mại hoặc nhà cho thuê, tính theo vòng đời ngắn và thay định kỳ. Chọn da bò cho một chiếc ghế dự kiến thay sau vài năm là đổ tiền vào phần giá trị không kịp dùng tới.
Thứ ba, khi phần cần đánh giá không phải tấm bọc. Một bộ khung ghép kém hoặc đệm mút tỷ trọng thấp sẽ xẹp và cót két trước khi tấm bọc kịp hỏng, dù nó là da bò hay microfiber. Trong trường hợp đó, tranh luận về vật liệu bề mặt là tranh luận sai chỗ.
Nhà nào hợp da bò, nhà nào hợp microfiber
Chọn da bò khi: bạn giữ một bộ sofa trên bảy đến mười năm và chấp nhận nó đổi màu theo thời gian; phòng khách không có nắng chiếu thẳng vào ghế; nhà không nuôi mèo; có người sẵn sàng lau dưỡng vài lần mỗi năm; và bạn thật sự quan tâm tới cảm giác chạm cùng độ thoáng khi ngồi lâu. Chi tiết từng loại da đọc thêm ở nhóm bài chất liệu da.
Chọn microfiber khi: vòng đời dự tính khoảng ba đến năm năm rồi thay; nhà có thú cưng hoặc trẻ nhỏ; cần một bộ lớn nhiều mảnh phải đồng màu tuyệt đối; không có thói quen bảo dưỡng nội thất; hoặc ngân sách cần dồn cho khung và đệm thay vì cho lớp bọc.
Không chọn cả hai khi: ghế đặt ở nơi nắng chiếu trực tiếp nhiều giờ mỗi ngày và không thể che. Nắng làm khô da bò và làm giòn lớp phủ microfiber; ở vị trí đó, vải bọc thay được là phương án tỉnh táo hơn.
Nếu tấm bọc hiện tại đã bắt đầu bong hoặc rạn, xem cách xử lý theo từng dạng hỏng tại mục khắc phục, và đối chiếu thêm các cặp vật liệu khác trong nhóm so sánh.