Miễn phí vận chuyển toàn quốc Tư vấn chọn sofa 24/7 0909 888 668 Hỗ trợ đại lý / Doanh nghiệp

Chất liệu

Foam D18: tấm mút nhẹ nhất trong bộ sofa và chỗ nó không nên nằm

Một khối foam D18 cỡ 50 x 50 x 10 cm chỉ nặng khoảng 450 gram. Toàn bộ ưu điểm lẫn rắc rối của loại mút này đều bắt nguồn từ chỗ nó quá nhẹ.

Cắt một khối foam D18 kích thước 50 x 50 x 10 cm rồi đặt lên cân, kim sẽ dừng quanh mức 450 gram. Cùng kích thước ấy, một khối D40 nặng hơn gấp đôi. Con số đó chính là toàn bộ câu chuyện của D18: nó nhẹ, và gần như mọi ưu điểm lẫn rắc rối của loại mút này đều bắt nguồn từ chỗ nó nhẹ.

Con số 18 đo cái gì và không đo cái gì

D18 nghĩa là mỗi mét khối foam nặng 18 kg. Đây là tỉ trọng, tức khối lượng trên một đơn vị thể tích. Nó không phải độ cứng. Hai khái niệm này bị gộp làm một trong phần lớn cuộc mua bán, và đó là gốc rễ của hầu hết hiểu lầm quanh mút xốp.

Một tấm D18 hoàn toàn có thể cho cảm giác chắc tay lúc mới bóp thử, tùy công thức hóa chất nhà sản xuất chọn. Nhưng tỉ trọng nói về thứ khác: lượng vật liệu thực có trong mỗi khoảng không gian, tức số vách bọt cùng nhau gánh lực. Càng ít vật liệu thì mỗi vách càng phải chịu nhiều và càng chóng mỏi khi bị nén lặp lại hàng nghìn lần.

Vì vậy tỉ trọng không cho bạn biết ngồi lên có êm hay không. Nó cho bạn biết cảm giác êm ấy giữ được bao lâu. Đây là điểm cần nắm trước khi đọc bất kỳ bảng thông số nào trong nhóm đệm mút.

Vì sao D18 hay bị dùng sai chỗ

D18 bị đặt nhầm vị trí thường xuyên hơn mọi mức tỉ trọng khác. Lý do không nằm ở chất lượng tấm foam mà ở ba đặc điểm dễ đánh lừa người mua.

Thứ nhất, nó rẻ hơn rõ rệt so với các mức tỉ trọng cao. Khoảng chênh giữa D18 và D30 cho cùng một bộ đệm sofa không nhỏ, đủ để một xưởng cắt giảm giá thành xuống mức cạnh tranh mà bề ngoài sản phẩm không đổi. Phần chênh đó thực chất mua về tuổi thọ, không mua về cảm giác ngày đầu.

Thứ hai, phòng trưng bày không phân biệt được D18 với foam tốt. Tấm mút mới chưa từng chịu tải sẽ hồi gần như hoàn toàn sau mỗi lần ấn thử. Khác biệt giữa các mức tỉ trọng chỉ lộ ra sau vài tháng dùng thật, khi lực nén lặp lại đã phá dần cấu trúc bọt.

Thứ ba, độ dày che lấp tỉ trọng. Một tấm D18 dày cho cảm giác lún sâu, mềm mại, dễ bị hiểu là hào phóng vật liệu. Nhưng dày mà nhẹ chỉ có nghĩa là nhiều không khí hơn, không phải nhiều foam hơn.

Những vị trí D18 làm tốt

  • Tựa lưng sofa, nơi lực dựa phân tán trên diện tích lớn và không dồn tập trung.
  • Gối trang trí, gối ôm, gối tì tay rời.
  • Lớp đệm mỏng bọc quanh tay ghế và thành ghế, chỉ có nhiệm vụ tạo hình và chống cấn khung.
  • Lớp lót phủ trên bề mặt hệ lò xo hoặc trên một lõi foam tỉ trọng cao, đóng vai trò làm mềm chứ không chịu tải chính.
  • Ghế dùng thưa: ghế phòng thờ, ghế trang trí, ghế phòng khách ít người ngồi.

Những vị trí D18 hỏng nhanh

  • Đệm ngồi của sofa dùng hằng ngày, đặc biệt là chỗ ngồi quen thuộc của một người.
  • Đệm ngồi ghế góc chữ L, nơi phần đuôi hay bị ngồi dồn vào một điểm.
  • Ghế sofa giường, vì tấm mút vừa chịu tải ngồi vừa chịu tải nằm và còn bị gập.
  • Đệm ngồi cho người thể trạng nặng, gia đình đông người, hoặc ghế đặt ở quầy lễ tân.

Đối chiếu D18 với các mức tỉ trọng thông dụng

Bảng dưới dùng quy ước tỉ trọng phổ biến tại Việt Nam. Các mức cụ thể của từng nhà máy có thể lệch đôi chút vì công thức khác nhau.

Mức Khối lượng mỗi mét khối Vị trí hợp lý Biểu hiện sau thời gian dùng nặng Giá tương đối
D18 18 kg Tựa lưng, gối, lớp lót, đệm tay Lún vết ngồi sớm, mép tấm mềm trước Thấp nhất trong nhóm dùng cho sofa
D25 25 kg Đệm ngồi cho ghế dùng vừa phải Xẹp dần đều, vẫn còn lực đỡ Cao hơn D18 một bậc
D30 30 kg Đệm ngồi sofa gia đình dùng hằng ngày Giữ dáng khá lâu, hồi chậm hơn lúc mới Cao hơn D25 đáng kể
D40 40 kg Đệm ngồi chịu tải nặng, ghế công cộng Cứng hơn theo thời gian nhưng ít mất dáng Cao nhất trong nhóm phổ thông

Cột đáng đọc ở đây là cột biểu hiện, không phải cột giá. Nâng riêng phần đệm ngồi từ D18 lên D30 thường tốn ít hơn nhiều so với thay cả bộ đệm sau này, vì phần chênh chỉ rơi vào vài tấm chịu tải chính.

Điều gì xảy ra bên trong tấm D18 sau vài tháng ngồi

Foam là mạng lưới vách bọt rất mỏng. Khi bạn ngồi, các vách này cong xuống rồi bật lại. Ở tỉ trọng thấp, số vách ít hơn nên mỗi vách phải cong sâu hơn để hấp thụ cùng một lực. Cong quá giới hạn đủ nhiều lần thì vách gãy, và chỗ gãy không tự dựng lại.

Hệ quả nhìn thấy được diễn ra theo thứ tự khá đều đặn: đầu tiên là mất độ nảy, tấm mút trồi lên chậm hơn trước. Tiếp theo là vết lõm cố định đúng chỗ ngồi quen, rõ nhất khi nhìn ngang bề mặt lúc chưa ai ngồi. Sau đó mép trước mềm đi trước phần giữa, vì đây là chỗ vừa chịu lực vừa bị bẻ gập mỗi lần đứng lên. Giai đoạn cuối, tay ấn xuống chạm được kết cấu bên dưới, và thay ruột đệm hợp lý hơn là tìm cách phục hồi.

Độ ẩm và nhiệt đẩy nhanh toàn bộ chuỗi trên, chi tiết này thuộc nhóm bài bảo quản.

Người mua hay hiểu sai ở chỗ nào

  • Hiểu tỉ trọng là độ cứng. Câu hỏi thường gặp là muốn ghế cứng nên chọn tỉ trọng nào. Thực ra độ cứng chọn theo sở thích, tỉ trọng chọn theo cường độ sử dụng. Hai thứ này đặt riêng.
  • Tin rằng dày là bền. Một tấm D18 dày và một tấm D30 mỏng hơn có thể cho cảm giác ban đầu tương đương, nhưng tấm thứ hai giữ dáng lâu hơn hẳn.
  • Coi D18 là hàng kém. D18 không hỏng vì bản thân nó; nó hỏng vì bị giao nhiệm vụ của D30. Đặt đúng chỗ, D18 là lựa chọn hợp lý và tiết kiệm.
  • Nghĩ lớp vải dày sẽ bù được. Vỏ bọc chỉ chịu ma sát bề mặt, không chia sẻ tải trọng. Chọn vải bọc tốt không cứu được ruột đệm yếu.
  • Cho rằng foam nhập khẩu thì khỏi cần hỏi tỉ trọng. Xuất xứ không thay thế được thông số; foam nhập vẫn có đủ dải tỉ trọng từ thấp đến cao.

Bảy bước kiểm tra trước khi nhận một bộ đệm dùng foam D18

  1. Hỏi thẳng tỉ trọng từng vị trí, tách riêng đệm ngồi và tựa lưng. Nếu chỉ nhận được một con số cho cả bộ, hãy hỏi lại.
  2. Yêu cầu ghi tỉ trọng và độ dày từng lớp vào đơn hàng.
  3. Mở khóa kéo vỏ bọc, nhìn mặt cắt xem đó là khối liền hay nhiều lớp dán chồng và lớp nào nằm trên cùng.
  4. Nhấc tấm đệm ngồi bằng một tay, ghi nhớ cảm giác nặng nhẹ để so với tấm tựa lưng cùng cỡ.
  5. Ngồi dồn trọng lượng vào một điểm sát mép trước khoảng một phút, rồi đứng dậy và đếm thời gian bề mặt phẳng lại.
  6. Kiểm tra mép và góc tấm mút xem có được bo hoặc gia cố không, vì đây là chỗ hỏng đầu tiên.
  7. Hỏi bảo hành riêng cho phần ruột đệm, tách khỏi khung và vỏ bọc. Chính sách cho ruột phản ánh khá trung thực mức tỉ trọng bên trong.

Nhận ra D18 khi người bán không nói tỉ trọng

Không phải lúc nào bạn cũng nhận được con số. Trong trường hợp đó, tấm foam vẫn tự khai báo bằng vài dấu hiệu vật lý.

Cân là cách chắc chắn nhất. Với một mẩu foam thừa hoặc tấm rời tháo được, hãy đo ba chiều rồi cân, lấy khối lượng tính bằng kilogram chia cho thể tích tính bằng mét khối. Một tấm 60 x 60 x 12 cm là 0,0432 mét khối; cân được khoảng 780 gram thì tỉ trọng rơi vào vùng 18, còn vượt quá một kilogram thì đó không phải D18.

So sánh chéo trong cùng bộ ghế. Nhấc tấm đệm ngồi và tấm tựa lưng cỡ xấp xỉ nhau. Ở bộ làm đúng, đệm ngồi phải nặng hơn rõ rệt; nếu nặng ngang nhau, khả năng cao cả hai cùng một mức tỉ trọng thấp.

Đọc tốc độ hồi bằng ngón cái. Ấn sâu vào giữa tấm rồi buông. Foam tỉ trọng cao đẩy ngón tay lên gần như tức thì; foam nhẹ để lại vệt lõm nông thấy được thêm vài giây.

Nhìn cấu trúc bọt ở mặt cắt. Bọt to, thưa, nhìn xốp là đặc trưng của nhóm tỉ trọng thấp; bọt nhỏ và khít thuộc nhóm cao hơn. Đây là quan sát tương đối, nên hãy so hai mẫu cạnh nhau thay vì đoán trên một mẫu đơn lẻ.

Khi các dấu hiệu này cùng chỉ về một hướng và vị trí đang xét là đệm ngồi của ghế dùng hằng ngày, hãy lấy đó làm lý do thương lượng nâng cấp riêng phần đệm ngồi thay vì đổi cả bộ. Nếu ghế đã lún sẵn, các phương án xử lý nằm ở nhóm bài khắc phục.