Chất liệu
Foam D40 là gì: hiểu đúng con số 40 trước khi trả thêm tiền
Con số 40 chỉ nói cân nặng của một mét khối mút, không nói tấm mút cứng hay êm. Hiểu sai chỗ này là trả thêm tiền cho thứ mình không cần.
Trong một cuộc tư vấn mua sofa, con số 40 gần như luôn được nhắc tới với giọng khẳng định: mút D40, yên tâm đi. Ít khi có ai nói tiếp rằng con số đó chỉ mô tả lượng vật liệu nhồi trong một đơn vị thể tích, chứ không cho biết tấm mút cứng đến đâu, ngồi lên êm hay xóc, hay dùng được bao nhiêu năm. Phần lớn câu hỏi quanh foam D40 xuất phát từ giả định ngược lại: cứ D40 là cao cấp, là đáng tiền hơn mọi tỉ trọng thấp hơn. Bài viết tách bạch từng lớp, và dành một mục cho tình huống ít người nói tới: lúc tỉ trọng cao thành điểm trừ.
Con số 40 đo cái gì và ai quyết định nó
D trong D40 là viết tắt của density, tức tỉ trọng, đơn vị kg/m3. Cách gọi D18, D25, D30, D40 là quy ước phổ biến trong ngành nội thất tại Việt Nam để phân loại nhanh mút PU dạng khối. Con số này được xác lập ngay ở khâu tạo bọt. Xưởng đóng sofa mua mút theo lô đã có sẵn tỉ trọng, không thể biến tấm D30 thành D40 bằng cách ép hay dán.
Tỉ trọng cao nghĩa là trong cùng một thể tích có nhiều vật liệu hơn, vách các bọt khí dày hơn. Đó là lý do tỉ trọng liên quan tới độ bền: bị nén hàng nghìn lần, vách bọt dày chịu mỏi tốt hơn vách mỏng. Liên quan, chứ không phải bảo đảm, vì chất lượng hóa chất và độ đồng đều của khối bọt vẫn ảnh hưởng nhiều, mà cái đó tùy nhà sản xuất.
Tỉ trọng và độ cứng là hai chỉ số khác nhau
Đây là chỗ gây nhầm nhiều nhất. Tỉ trọng đo khối lượng trên một đơn vị thể tích, còn độ cứng đo lực cần bỏ ra để nén tấm mút lún xuống một tỉ lệ nhất định. Hai thông số này được điều chỉnh bằng những cách khác nhau, nên hoàn toàn có mút D40 cho cảm giác mềm và có mút tỉ trọng thấp hơn nhưng ngồi lên thấy cứng ngắc.
Hệ quả thực tế: ngồi thử thấy ghế quá cứng rồi kết luận “chắc do mút D40” là đổ lỗi sai chỗ, còn đặt đệm D40 với mong đợi ngồi êm hơn cũng dễ vỡ mộng. Câu hỏi đúng gồm hai vế tách rời: tỉ trọng bao nhiêu, và độ cứng thuộc nhóm mềm, trung bình hay cứng.
Đối chiếu các mức tỉ trọng trong cùng một tấm đệm ngồi
| Tỉ trọng | Cảm nhận thường gặp khi mới dùng | Vị trí thường được dùng | Xu hướng sau thời gian dùng nhiều |
|---|---|---|---|
| D18 | Nhẹ tay, lún nhanh | Đệm tựa, gối trang trí, lớp phủ mỏng | Xẹp và lõm theo vết ngồi sớm nhất |
| D25 | Êm, đỡ người vừa phải | Đệm ngồi ghế phụ, ghế ít dùng | Giảm chiều cao rõ ở chỗ ngồi quen |
| D30 | Nâng đỡ khá chắc | Đệm ngồi phổ thông, nhà ít người | Giữ dáng ổn nếu không quá tải |
| D40 | Chắc tay, nặng, cần thời gian quen | Ghế dùng liên tục, người nặng cân | Giữ chiều cao lâu nhất trong nhóm |
Bảng trên là xu hướng chung, không phải cam kết cho từng lô: hai tấm cùng ghi D40 của hai nhà sản xuất vẫn có thể cho trải nghiệm lệch nhau. Cách các loại đệm phối lớp nằm ở chuyên mục đệm mút.
Khi nào tỉ trọng cao lại là nhược điểm
D40 không phải lựa chọn tốt hơn trong mọi tình huống. Có ít nhất năm trường hợp nó gây phiền hơn là giúp ích.
Thứ nhất, sức nặng dồn lên kết cấu bên dưới. Đệm D40 nặng hơn hẳn đệm cùng kích thước tỉ trọng thấp. Với ghế có khung gỗ mảnh hoặc dây đai đàn hồi loại nhẹ, tải tĩnh tăng thêm khiến dây giãn sớm và mặt ngồi võng ở giữa dù mút vẫn còn tốt. Chủ nhà thấy ghế xuống dáng rồi đổ lỗi cho mút, trong khi vấn đề nằm ở phần đỡ, xem mục khắc phục lỗi thường gặp.
Thứ hai, đệm tựa lưng và tay vịn. Lưng không chịu tải như mông, nên tấm tựa D40 nguyên khối thường bị chê là cứng và đẩy người ra trước. Chi tiết bo cong ở tay vịn cũng khó tạo dáng mềm khi mút quá chắc.
Thứ ba, người nhẹ cân và người cao tuổi. Mút chắc cần một lực nhất định mới lún tới mức ôm được cơ thể, nên người nhẹ cân ngồi lên gần như nằm trên bề mặt. Người cao tuổi thì khó đứng lên khỏi mặt ngồi cứng, cũng khó tự lật trở tấm đệm nặng.
Thứ tư, đệm mỏng. Với tấm đệm chiều dày thấp, tăng tỉ trọng không cứu được cảm giác chạm đáy vì quãng lún vốn đã ngắn. Tăng chiều dày hoặc đổi sang cấu trúc nhiều lớp cho khác biệt rõ hơn hẳn.
Thứ năm, phần chênh giá không đi kèm lợi ích tương ứng. Mút tỉ trọng càng cao càng tốn nguyên liệu, nên đệm D40 luôn đắt hơn D30 và chênh rõ so với D25. Với chiếc ghế chỉ dùng tiếp khách cuối tuần, khoản chênh đó đổi lấy độ bền bạn không kịp dùng tới, trong khi đặt vào vải bọc hay chất lượng khung thì thấy ngay.
Người mua hay hiểu sai foam D40 ở chỗ nào
- Coi D40 là thước đo cao cấp. Nó là thông số của một vật liệu, giống chiều dày tấm ván. Ghế D40 trên khung yếu vẫn hỏng trước ghế D30 đóng chuẩn.
- Nghĩ cứng đồng nghĩa với bền. Cứng là cảm giác tức thì, bền là chuyện vài năm sau. Mút cứng mà tỉ trọng thấp sẽ mất độ cứng đó khá nhanh.
- Tin rằng D40 không bao giờ xẹp. Mọi loại mút PU đều giảm chiều cao theo thời gian, D40 chỉ đi chậm hơn.
- Nhầm với ghế dùng lò xo. Ghế có hệ lò xo nâng đỡ theo kiểu khác hẳn, lúc đó lớp mút chỉ là đệm phủ chứ không phải kết cấu chịu lực chính.
- Cho rằng tỉ trọng ghi trên phiếu là chắc chắn. Không ai cân kiểm tra thì đó vẫn là con số người bán đọc lên.
Sáu bước kiểm tra trước khi chốt đơn đệm D40
- Hỏi tách bạch hai thông số. Yêu cầu nói riêng tỉ trọng và riêng nhóm độ cứng. Người nắm nghề trả lời được cả hai, người chỉ thuộc chữ D40 sẽ lúng túng ở vế sau.
- Yêu cầu xem tấm mút rời. Trước khi bọc là lúc duy nhất bạn nhìn thấy lõi. Nhấc thử để cảm nhận độ nặng tay, so với một tấm tỉ trọng thấp cùng cỡ nếu xưởng có sẵn.
- Ép ngón cái xuống rồi thả ra. Quan sát tốc độ phục hồi. Vết lõm đọng lại lâu là dấu hiệu cần hỏi thêm về nguồn mút.
- Ngồi thử mười phút ở đúng tư thế hay ngồi ở nhà. Ngồi ba giây rồi gật đầu là cách nhanh nhất để mua nhầm độ cứng.
- Kiểm tra phần đỡ bên dưới. Lật ghế mẫu xem dây đai hoặc nan gỗ. Đệm nặng cần phần đỡ tương xứng, nếu không tuổi thọ phụ thuộc vào mắt xích yếu nhất.
- Ghi tỉ trọng vào phiếu đặt hàng kèm điều khoản bảo hành riêng cho phần đệm. Con số nằm trên giấy mới có giá trị khi cần đối chiếu.
D40 hợp nhà đông người tới mức nào
Trả lời trực tiếp trước: hợp, nhưng chỉ ở đúng những vị trí bị dùng nhiều nhất, và với điều kiện phần đỡ bên dưới được nâng cấp theo.
Nhà đông người tạo ra một kiểu tải rất riêng: cùng một chỗ ngồi bị nén liên tục suốt ngày bởi nhiều người khác nhau, gần như không có quãng nghỉ để tấm mút hồi lại chiều cao. Nhà có trẻ nhỏ còn chịu thêm lực va đập khi trẻ nhảy lên mặt ngồi, khác hẳn kiểu nén đều của người lớn. Đây chính là điều kiện tỉ trọng cao phát huy rõ nhất.
Nhưng đông người không có nghĩa toàn bộ ghế phải dùng D40. Cách phân bổ hợp lý hơn: D40 cho các đệm ngồi ở vị trí hay được chọn nhất, tỉ trọng vừa phải cho chỗ ngồi phụ ít khi có người, và không dùng D40 nguyên khối cho đệm tựa. Cách này giữ tuổi thọ ở nơi cần mà không biến cả bộ ghế thành khối nặng khó xê dịch.
Đi kèm là hai điều kiện không thể bỏ. Khung và dây đai phải đủ khỏe cho tải tĩnh lớn hơn, nếu không mặt ngồi võng trước cả khi mút xuống cấp. Và phải đổi vị trí các tấm đệm theo lịch cố định, vì nhà đông người luôn có một chỗ ngồi bị chọn nhiều hơn hẳn, chi tiết ở mục bảo quản sofa.
Ngược lại, nhà một hoặc hai người, ghế chủ yếu dùng buổi tối, thì D40 không giải quyết vấn đề nào bạn đang có. Đặt khoản chênh vào chất liệu bọc bền màu hơn cho khác biệt cảm nhận được mỗi ngày, thay vì một lợi ích chỉ hiện ra sau nhiều năm dùng cường độ cao mà chiếc ghế không bao giờ trải qua.