Miễn phí vận chuyển toàn quốc Tư vấn chọn sofa 24/7 0909 888 668 Hỗ trợ đại lý / Doanh nghiệp

Chất liệu

Khung gỗ plywood: số lớp và hướng vân quyết định độ bền

Hai tấm plywood cùng dày 18 mm có thể chênh nhau tới bốn lớp bên trong. Mặt trên không cho biết điều đó, chỉ mép cắt mới nói thật.

Một tấm ván ép dày 18 mm có thể ghép từ 9 lớp mỏng, cũng có thể chỉ từ 5 lớp dày. Nhìn từ mặt trên, hai tấm ấy gần như giống hệt nhau: cùng độ dày, cùng phẳng, cùng màu keo. Nhưng khi xẻ ra làm thanh giằng ngang cho sofa ba chỗ, tấm nhiều lớp giữ được đường thẳng lâu hơn hẳn. Khác biệt nằm ở hai thứ mặt tấm không nói ra: số lớp bên trong và hướng vân từng lớp.

Vân gỗ xoay chéo là toàn bộ lý do plywood tồn tại

Gỗ là vật liệu có hướng. Dọc thớ, nó rất khỏe và gần như không co ngót. Ngang thớ, nó yếu hơn nhiều lần và co giãn mạnh theo độ ẩm. Đó là lý do một thanh gỗ đặc để lâu trong phòng bật điều hòa liên tục thường nứt hoặc vặn theo một chiều duy nhất.

Plywood xử lý điều này bằng cách bóc gỗ thành lá mỏng rồi dán chồng lên nhau, mỗi lá xoay vân vuông góc với lá liền kề. Lớp vân dọc bị lớp vân ngang giữ lại, và ngược lại. Kết quả là tấm gần như đẳng hướng: không còn chiều yếu rõ rệt để cong về. Trên khung sofa, tính chất này quan trọng hơn độ cứng tuyệt đối, vì khung chịu hàng nghìn lần ngồi xuống chứ không chịu một lực tĩnh.

Cũng vì nguyên lý đan chéo, số lớp plywood gần như luôn lẻ: lớp giữa là lõi cân bằng, hai bên đối xứng nhau về hướng vân.

Cùng 18 mm, tấm 9 lớp và tấm 5 lớp khác nhau ở đâu

Khi độ dày cố định, tăng số lớp đồng nghĩa mỗi lá gỗ mỏng đi. Thứ nhất, lá càng mỏng thì khuyết tật trong gỗ càng ít cơ hội xuyên suốt độ dày. Một mắt gỗ nằm trong lá 2 mm chỉ làm yếu đúng lá đó; nằm trong lá 4 mm thì lấy đi gần một phần ba tiết diện chịu lực của tấm 5 lớp.

Thứ hai, nhiều lớp nghĩa là nhiều mặt keo. Màng keo giữa các lá là thành phần cứng, chống trượt giữa các lớp khi tấm bị uốn. Tấm 9 lớp có 8 mặt keo, tấm 5 lớp chỉ có 4.

Thứ ba, hướng vân đổi chiều dày đặc hơn nên chênh lệch độ bền giữa chiều dọc và chiều ngang tấm thu hẹp lại. Đổi lại, nhiều lớp thì tốn công bóc, tốn keo và tốn lần ép hơn, nên số lớp gần như luôn phản ánh vào giá thành.

Hướng vân lớp mặt quyết định thanh khung phải xẻ theo chiều nào

Ở phần lớn plywood, lớp ngoài cùng có vân chạy song song cạnh dài của tấm. Vì các lớp đan chéo nên số lá cùng chiều cạnh dài luôn nhiều hơn số lá vuông góc một lá. Nghĩa là tấm khỏe hơn khi uốn theo chiều dài, yếu hơn khi uốn theo chiều ngang.

Với xưởng làm khung, điều này rất cụ thể: thanh giằng dưới đệm ngồi, thanh đỡ mép trước, thanh nối hai tay ghế nên được xẻ dọc theo chiều vân lớp mặt. Xẻ ngang tấm để tận dụng phần thừa là cách nhanh nhất tạo ra thanh trông giống hệt nhưng chịu uốn kém hơn đáng kể.

Dấu hiệu gián tiếp người mua kiểm tra được: hỏi xem thanh mép trước là plywood liền một dải hay nhiều mẩu nối lại.

Plywood đứng ở đâu giữa các vật liệu khung khác

Vật liệu khung Ổn định với độ ẩm Giữ đinh vít Nhận biết qua mép cắt Điểm yếu chính
Plywood nhiều lớp Rất tốt nhờ vân đan chéo Tốt khi vít vuông góc mặt tấm Đường kẻ song song đều nhau Hở lớp ở mép nếu keo kém
Gỗ tự nhiên đã sấy Khá, tùy độ ẩm gỗ khi gia công Rất tốt Vân liền mạch, không có lớp Cong vênh, nứt thớ nếu sấy chưa đạt
MDF Kém khi gặp ẩm Kém ở cạnh tấm Khối mịn đều, không lớp Phồng và mất kết cấu khi ngấm nước
Ván dăm Kém nhất Kém Khối hạt dăm rời rạc Bở dần tại vị trí chịu tải lặp lại
Khung sắt hộp Không ảnh hưởng bởi ẩm Không dùng vít gỗ Ống rỗng, thấy mối hàn Nứt mối hàn, kêu khi khớp lỏng

Khung phối hợp plywood cho mảng phẳng và gỗ đặc cho trụ chịu vít là cấu hình hợp lý, xem thêm ở mục chất liệu khung sofa.

Màng keo giữa các lớp thường hỏng trước cả gỗ

Plywood hiếm khi hỏng vì gỗ mục. Nó hỏng vì lớp keo giữa các lá mất liên kết, và khi đó tấm tách ra từng lá như quyển sách bung gáy. Từ lúc ấy, toàn bộ lợi thế của cấu trúc đan chéo biến mất.

Loại keo khác nhau theo từng nhà sản xuất và thường không được công bố. Thứ bạn kiểm tra được là kết quả của nó: mép cắt phải kín, các lá áp sát nhau, không khe hở nhìn thấy bằng mắt thường. Mép đã hở lớp khi ghế còn mới là dấu hiệu ép chưa đủ áp lực hoặc keo trải không đều.

Vị trí đáng ngại nhất là chân ghế và thanh sát sàn, nơi tiếp xúc nước lau nhà, nên kê đế nhựa là mẹo bảo quản hiệu quả nhất.

Người mua hay hiểu sai plywood ở chỗ nào

Coi plywood là “gỗ công nghiệp” nên mặc định kém

Ván dăm và MDF là gỗ nghiền nhỏ rồi ép lại, cấu trúc sợi gốc đã bị phá vỡ. Plywood giữ nguyên các lá gỗ liền và chỉ sắp xếp lại hướng của chúng. Về kết cấu, plywood gần gỗ tự nhiên hơn là gần ván dăm.

Nghĩ dày hơn thì luôn khỏe hơn

Độ dày chỉ là một biến. Tấm 18 mm chia 5 lá dày, dùng gỗ nhiều mắt, hoàn toàn có thể thua tấm 15 mm chia 9 lá đều. Khi so sánh hai bộ ghế, hỏi số lớp trước rồi mới hỏi độ dày.

Tưởng khung nào cũng dùng chung một loại plywood

Tấm làm mảng lưng khuất sau đệm không cần cùng cấp với thanh chịu tải ở mép trước. Dùng plywood mỏng lớp cho mảng không chịu lực là hợp lý về kỹ thuật. Vấn đề chỉ phát sinh khi nó bị đặt vào vị trí chịu tải.

Bảy bước kiểm tra khung plywood trước khi chốt đơn

  1. Hỏi ảnh khung mộc chụp trước khi bọc. Không có ảnh thì hỏi mẫu khung trưng bày tại xưởng.
  2. Tìm một mép cắt lộ ra, thường ở mặt dưới hoặc phía sau lưng ghế.
  3. Đếm số đường kẻ ngang ở mép cắt và ghi lại cùng độ dày tấm.
  4. Kiểm tra các lá có áp sát nhau không, có khe hở hay khoảng rỗng nào không.
  5. Nhìn hướng vân trên thanh chịu tải dài nhất, xem vân chạy dọc thanh hay cắt ngang nó.
  6. Ngồi mạnh xuống mép trước rồi dồn trọng lượng sang một bên, nghe tiếng kêu và cảm nhận độ trễ khi khung trả về.
  7. Lật xem chân ghế và thanh sát sàn có được che chắn khỏi nước không.

Nếu bước 6 phát ra tiếng cót két rõ ràng trên ghế mẫu còn mới, hãy dừng lại: các cách khắc phục chỉ hiệu quả với khung dùng lâu, không cứu được lỗi kết cấu từ đầu.

Plywood nằm ở đâu trên thang giá khung sofa

Về mặt tương đối, plywood nhiều lớp đắt hơn ván dăm và MDF khá rõ, nằm ngang hoặc thấp hơn chút so với gỗ tự nhiên đã sấy đạt, và rẻ hơn khung gỗ đặc ghép mộng thủ công. Trong nội bộ nhóm plywood, chênh lệch đến từ số lớp, loài gỗ làm lá và chất lượng ép, chứ không đến từ độ dày.

Phần chênh khi trả thêm mua được ba thứ chỉ lộ ra sau vài năm: khung ít cong vênh khi độ ẩm đổi mùa, mối vít giữ chặt lâu hơn nên ghế ít phát tiếng, và mép tấm ít bung lớp. Ngược lại, trả thêm để có tấm dày hơn nhưng ít lớp hơn thì gần như không mua được gì.

Đếm lớp ở mép cắt để đánh giá

Mọi thứ ở trên quy về một thao tác làm được ngay tại cửa hàng, không cần dụng cụ gì ngoài đèn điện thoại. Tìm chỗ mép plywood lộ ra. Chỗ dễ tìm nhất là mặt dưới khung nhìn qua lớp vải lót đáy, hoặc mặt sau lưng ghế ở mẫu để hở khung. Rọi đèn chếch một góc thay vì chiếu thẳng, ánh sáng nghiêng làm nổi ranh giới giữa các lá. Chụp ảnh cận rồi phóng to và đếm số vạch ngang.

Có số lớp rồi thì đối chiếu tiếp ba dấu hiệu. Một, các lá dày đều nhau hay có một lá dày bất thường ở giữa để độn cho đủ độ dày. Hai, có lá nào lộ khoảng rỗng bên trong không. Ba, đường keo giữa các lá liền mạch hay đứt quãng.

Ba dấu hiệu này cộng với số lớp cho bức tranh chính xác hơn hẳn mọi lời mô tả trên trang bán hàng. Nếu người bán không chỉ được mép cắt nào để nhìn, bản thân điều đó cũng là một dữ kiện. Yên tâm về khung rồi thì xem tiếp đệm múthệ lò xo.