Hai tấm mút cắt ra từ cùng một cuộn, cùng dày mười phân, cùng màu vàng nhạt. Một tấm dán nhãn D30, tấm kia D40. Nhìn thì gần như không phân biệt được, nhưng nhấc lên là thấy ngay: tấm D40 nặng hơn hẳn. Chênh lệch cân nặng đó chính là toàn bộ nội dung mà con số phía sau chữ D muốn nói, và cũng chính là chỗ mà rất nhiều người mua sofa hiểu sai.
Con số sau chữ D đếm kilogram trong một mét khối, không đếm độ cứng
Foam D30 nghĩa là một mét khối mút đó nặng xấp xỉ 30 kilogram. Foam D40 thì xấp xỉ 40 kilogram. Cùng một thể tích, tấm D40 chứa nhiều vật chất hơn, thành vách của các bọt khí dày hơn, số bọt rỗng trên mỗi centimet khối ít hơn. Đó là định nghĩa, và nó chỉ dừng ở đó.
Độ cứng lại là một chỉ số hoàn toàn khác, đo bằng lực cần thiết để nén tấm mút xuống một tỉ lệ nhất định. Hai tấm cùng tỉ trọng vẫn có thể mềm cứng khác nhau tùy công thức hóa chất, tùy chất tạo bọt, tùy độ nở khi ra khuôn. Xưởng mút hoàn toàn có thể làm ra một tấm D40 mềm tay và một tấm D30 cứng đanh. Vì vậy câu hỏi “D40 có êm hơn D30 không” là câu hỏi hỏi sai đơn vị, giống như hỏi một chiếc xe nặng hơn thì có chạy nhanh hơn không.
Điều tỉ trọng thực sự nói lên là sức bền theo thời gian. Mỗi lần có người ngồi xuống, hàng triệu vách bọt bị bẻ gập rồi bật lại. Vách càng dày, số lần bẻ gập chịu được càng nhiều trước khi chúng rách và không bật lại nữa. Đó là lý do tấm mút xẹp lún, lõm hình người ngồi, mất chiều cao ở giữa trong khi hai mép vẫn còn nguyên.
Ấn tay xuống D40 thấy chắc, nhưng chắc không đồng nghĩa với dễ chịu
Cách thử mút phổ biến nhất trong showroom là ấn lòng bàn tay xuống rồi thả ra. Tấm D40 bật lại nhanh, phản lực rõ, cảm giác đặc và liền khối. Người thử gần như lập tức xếp nó vào nhóm cao cấp. Tấm D30 lún sâu hơn, bật chậm hơn, dễ bị gán cho chữ “rẻ tiền”.
Nhưng cảm giác dễ chịu không sinh ra từ phản lực. Nó sinh ra từ độ lún ban đầu vừa đủ để tấm mút ôm lấy phần hông và đùi, phân tán trọng lượng ra diện tích rộng thay vì dồn vào hai điểm xương chậu. Với người thể trạng mảnh, lực ép xuống không đủ làm biến dạng phần lõi của tấm D40: chỉ lớp mặt lún nhẹ, phần còn lại đứng yên như một mặt phẳng. Ngồi mười lăm phút thì thấy sang, ngồi hai tiếng xem phim thì thấy tê và phải đổi tư thế liên tục. Cũng người đó ngồi lên tấm D30 lại thấy êm hơn thật, vì tấm mút chịu lún theo đường cong cơ thể.
Cái D40 thắng không phải là cảm giác ngày đầu tiên, mà là chỗ vài năm sau cảm giác đó gần như không đổi, trong khi tấm D30 cùng điều kiện đã tụt chiều cao và hiện vết ngồi quen thuộc. Nói ngắn gọn: tỉ trọng là chỉ số về tuổi thọ, không phải chỉ số về sự thoải mái. Lấy tỉ trọng làm thước đo độ êm thì gần như chắc chắn sẽ trả thêm tiền cho thứ mình không cần. Cũng lưu ý một mẹo hay gặp là bù độ dày: tấm D30 dày hơn có thể nâng đỡ tương đương tấm D40 mỏng hơn, nên phải so cùng chiều dày thì con số D mới có nghĩa.
Đối chiếu D30 và D40 trên những tiêu chí người mua sờ được
| Tiêu chí | Foam D30 | Foam D40 |
|---|---|---|
| Khối lượng mỗi mét khối | Khoảng 30 kg | Khoảng 40 kg, nặng hơn rõ khi cầm |
| Độ lún trong vài giây đầu | Lún sâu, ôm theo đường cong cơ thể | Lún nông, mặt ngồi phẳng và chắc |
| Cảm giác sau hai giờ ngồi liên tục | Người nhẹ cân thấy dễ chịu, người nặng thấy chạm đáy | Người nhẹ cân dễ bị tê điểm tiếp xúc, người nặng thấy vừa |
| Tốc độ xẹp lún theo năm tháng | Nhanh hơn, dễ hiện vết ngồi ở chỗ quen thuộc | Chậm hơn đáng kể ở cùng điều kiện tải |
| Chịu tải người thể trạng lớn | Dễ bị nén tới đáy, mút quá ngưỡng đàn hồi | Còn dư biên độ, giữ được chiều cao mặt ngồi |
| Vị trí phù hợp trên bộ sofa | Tựa lưng, tay vịn, đệm phụ, ghế ít dùng | Đệm ngồi chính, chỗ ngồi cố định hằng ngày |
| Trọng lượng khi tháo đệm vệ sinh | Nhẹ, một người nhấc và xoay đảo được | Nặng, đệm khổ lớn cần hai người |
| Chi phí vật tư cho cùng thể tích | Rẻ hơn đáng kể, chênh lệch nhân theo số tấm | Đắt hơn, khoản chênh lớn dần khi bọc cả bộ |
| Giá trị khi bọc lại sau nhiều năm | Thường phải thay mút cùng lúc thay vải | Nhiều trường hợp giữ lại được lõi, chỉ thay vải |
Người bốn lăm kilogram và người chín mươi kilogram ngồi cùng một tấm D30 nhận về hai tấm khác nhau
Tấm mút không có tính chất cố định, nó chỉ có phản ứng với tải. Cùng một tấm D30 dày mười phân, người thể trạng nhỏ ép xuống chừng một phần ba chiều dày, phần lõi còn nguyên để nâng đỡ. Người thể trạng lớn ép xuống gần hết chiều dày, cảm nhận được cả tấm ván hoặc hệ dây đai bên dưới. Trạng thái nén tới đáy này là kẻ giết chết tấm mút nhanh nhất: bọt bị ép quá ngưỡng đàn hồi, vách rách, và vết lõm hình thành chỉ sau vài tháng chứ không phải vài năm.
Từ đó rút ra vài quy tắc thực tế khi chọn:
- Cân nặng người ngồi nhiều nhất mới là con số cần cân nhắc, không phải cân nặng trung bình cả nhà. Chiếc sofa chỉ hỏng ở chỗ người nặng nhất hay ngồi.
- Thói quen ngồi cố định một chỗ làm mọi thứ tệ hơn. Tải dồn mãi vào một ô đệm khiến ô đó xẹp trước, và một bộ sofa lệch cao thấp trông cũ hơn tuổi thật rất nhiều.
- Trẻ nhỏ nhảy lên đệm tạo tải xung, tức lực tức thời lớn hơn nhiều lần trọng lượng cơ thể. Nhà có trẻ hiếu động nên nghiêng về tỉ trọng cao dù cân nặng các thành viên đều nhẹ.
- Người cao tuổi hoặc người có vấn đề khớp gối lại cần mặt ngồi ít lún để đứng dậy dễ. Với nhóm này, tấm chắc tay không chỉ bền hơn mà còn dùng thuận hơn.
- Người thể trạng nhỏ, dùng sofa để nằm dài xem phim gần như không có lý do trả thêm cho tỉ trọng cao ở đệm ngồi.
Cùng logic đó, một chiếc sofa góc có ô nằm dài thường chịu tải phân tán hơn nhiều so với ghế đơn, nên yêu cầu về tỉ trọng ở phần nằm không gắt bằng phần ngồi.
Ba chỗ D40 thua D30 dù người bán gọi nó là hàng cao cấp
Một bài so sánh mà bên đắt tiền thắng tuyệt đối ở mọi tiêu chí thì không đáng tin. D40 thua thật, và thua ở những chỗ ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.
Thứ nhất, làm tựa lưng thì D40 tệ hơn. Lưng và vai không đủ lực để làm biến dạng một tấm mút tỉ trọng cao. Kết quả là tấm tựa cứng như một bức tường có bọc vải, đẩy vai ra trước và làm mỏi cổ khi ngồi lâu. Phần tựa cần thứ chịu lún nhanh dưới lực nhẹ, nên mút tỉ trọng thấp hơn hoặc lõi mềm bọc bông gòn mới là lựa chọn đúng.
Thứ hai, đệm D40 khổ lớn nặng đến mức người dùng bỏ luôn việc bảo dưỡng. Xoay đảo đệm định kỳ là cách kéo dài tuổi thọ hiệu quả nhất mà không tốn đồng nào. Nếu mỗi lần nhấc đệm phải gọi thêm người, việc đó sẽ không bao giờ được làm, và tấm D40 rốt cuộc cũng lõm một chỗ y như tấm D30 được xoay đảo đều đặn.
Thứ ba, khoản chênh có thể tiêu vào chỗ khác đáng hơn. Khi thay mút cho cả bộ, phần chênh lệch nhân lên theo số tấm. Với ghế ít dùng, tấm D40 không kịp thể hiện ưu thế bền bỉ trong suốt vòng đời của lớp vải bọc; cùng khoản tiền đó, nâng cấp vải bọc lên loại chịu mài mòn tốt hơn sẽ thay đổi trải nghiệm hằng ngày rõ rệt hơn.
Lúc D30 và D40 không nằm trên cùng một bàn cân
Có những tình huống đặt hai loại này cạnh nhau là vô nghĩa, vì chúng không thay thế nhau.
- Trong kết cấu nhiều lớp. Rất nhiều đệm ngồi tốt dùng nền tỉ trọng cao ở dưới để giữ hình, phủ lớp tỉ trọng thấp mềm hơn ở trên để tạo độ ôm. Ở đây D30 và D40 làm hai việc khác nhau, bổ sung cho nhau chứ không cạnh tranh.
- Khi so với vật liệu khác họ. Mút hoạt tính, cao su tự nhiên hay lò xo túi đều có thang đo riêng. Lấy con số D áp sang các vật liệu này là so nhầm hệ quy chiếu.
- Khi phần đỡ bên dưới đã yếu. Dây đai chùng hoặc khung gỗ cong vênh sẽ làm mặt ngồi võng bất kể mút tỉ trọng bao nhiêu. Đổ tiền vào tấm D40 đặt trên hệ đỡ hỏng là chữa sai bệnh, tình huống này thuộc về nhóm khắc phục hư hỏng chứ không phải chọn vật liệu.
- Khi hai tấm khác chiều dày hoặc khác độ cứng công bố. Không cùng chiều dày thì con số tỉ trọng mất hết ý nghĩa so sánh.
Ai nên dừng lại ở D30, ai nên trả thêm cho D40
Chọn foam D30 khi phần mút nằm ở tựa lưng, tay vịn hoặc gối trang trí; khi người dùng chính có thể trạng nhỏ và ưu tiên cảm giác ôm mềm; khi chiếc ghế nằm ở không gian ít sử dụng; khi ngân sách đang căng và cần dồn cho lớp vải bọc; hoặc khi đây là bộ ghế dự kiến dùng vài năm rồi thay theo thiết kế nhà mới.
Chọn foam D40 khi đó là đệm ngồi chính của chiếc ghế cả nhà dùng mỗi tối; khi có thành viên thể trạng lớn hoặc trẻ nhỏ hay nhảy lên ghế; khi mọi người có thói quen ngồi cố định một vị trí; khi người dùng cần mặt ngồi chắc để đứng dậy dễ; hoặc khi xác định giữ bộ ghế lâu và chỉ bọc lại vải theo chu kỳ.
Phương án hợp lý nhất trong phần lớn trường hợp không phải chọn một trong hai, mà là dùng cả hai đúng chỗ: tỉ trọng cao cho phần chịu tải, tỉ trọng thấp cho phần chỉ cần mềm. Khi đặt làm hoặc thay mút, hãy hỏi rõ tỉ trọng của từng bộ phận thay vì hỏi chung cả bộ, và tham khảo thêm cách đọc thông số ở mục đệm mút cùng các lưu ý trong kinh nghiệm chọn mua.